vanban.org

Bản án 657/2023/HNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Sơn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 044/2010, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 16, quận G, Thành phố H cấp ngày 08/3/2010 hết hiệu lực. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Hanh -Pham son Hai"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNQUẬN GÒ VẤP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 657/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 5 - 2023
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Thị Lệ

2. Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 370/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2023 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/QĐST-HPT ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 380/51 đường N, Phường 9, Quận G, Thành phố H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Sơn H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 508/21D đường T, Phường 16, quận G, Thành phố H. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/3/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị H trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Phạm Sơn H nguyện chung sống với nhau 2010, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 044/2010, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 16, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/3/2010. Quá trình chung sống có hai con chung là Phạm Nguyễn Trung H, sinh ngày 18/6/2011 và Phạm Nguyễn Gia H, sinh ngày 27/10/2015. Vợ chồng chung sống H phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do không hòa hợp về tính tình, bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung không còn H phúc. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn tình cảm và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020. Vì vậy bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H để hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ H và Hân, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn ông Phạm Sơn H vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H và không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự chịu sán phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại quận Gò Vấp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

.Về nội dung:

Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Sơn H là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 044/2010, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 16, quận G, Thành phố H cấp ngày 08/3/2010.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình H phúc.

Căn cứ vào lời khai của bà H thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông H là do không hòa hợp về tính tình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Ông H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để hòa giải hay có văn bản phản hồi chứng tỏ ông H không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân này nên không có thiện chí đến Tòa để hòa giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông H là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có hai người con chung là Phạm Nguyễn Trung H, sinh ngày 18/6/2011 và Phạm Nguyễn Gia H, sinh ngày 27/10/2015. Bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Mặc dù được Tòa án triệu tập ông H nhiều lần nhưng ông H không có ý kiến phản hồi về yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của bà H. Đồng thời hai trẻ cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Do đó yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà H là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số số 0012976 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố H. Bà H đã nộp đủ án phí.

. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H, ông Phạm Sơn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,khoản 4 Điều 147, Điều 220,khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Sơn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 044/2010, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường 16, quận G, Thành phố H cấp ngày 08/3/2010 hết hiệu lực.

2.Về con chung: Giao hai con chung là Phạm Nguyễn Trung H, sinh ngày 18/6/2011 và Phạm Nguyễn Gia H, sinh ngày 27/10/2015 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Phạm Sơn H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Sơn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012976 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố H. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H, ông Phạm Sơn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ