vanban.org

Bản án 656/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ KIM V"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!10!!!!! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 656/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05/10/2018

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!10,!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Cúc

2. Bà Đỗ Thị A

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Thiên Tâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 05 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:!402/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 156/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số 2737/49/2 đường P, Phường H, Quận Q, Tp. Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Tất T, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số 95/17 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

(vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

- Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 6 năm 2018, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim V trình bày: Bà và ông Phạm Tất T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 127 ngày 18 tháng 9 năm 2012.

Sau khi kết hôn được một thời gian ngắn thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống không hòa hợp. Vợ chồng sống chung nhà nhưng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, từ đó mâu thuẫn lại càng thêm trầm trọng. Bà cũng đã từng nộp đơn xin ly hôn ra Tòa nhưng vì muốn vợ chồng có cơ hội hàn gắn nên bà xin rút đơn, tuy nhiên tình cảm vẫn không cải thiện được mà đến nay vẫn sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà V khai, giữa bà và ông T chung sống có một con chung tên Phạm Nguyên Đ, sinh ngày 02/4/2013, bà V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có

Ngày 28/9/2018 bà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cho ông T nhưng ông T vắng mặt không có lý do.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

1. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa bà V và ông T là “Tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn ông Phạm Tất T có địa chỉ cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà V.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.

2. Về yêu cầu của nguyên đơn:

- Xét yêu cầu xin ly hôn:

Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tuy nhiên, giữa bà V và ông T lại sống ly thân cho thấy mục đích hôn nhân của bà V và ông T không đạt được. Hơn nữa, ông T đã được Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến nào gửi cho Tòa án về việc bà V xin ly hôn. Như vậy, ông T cũng không còn quan tâm, thiết tha đến cuộc sống hôn nhân này nữa nên tình cảm vợ chồng giữa bà V và ông T không còn khả năng đoàn tụ nên yêu cầu xin ly hôn của bà V là có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

- Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung, trong quá trình tiến hành tố tụng, ông T không không có mặt và không có ý kiến về việc yêu cầu xin nuôi con của bà V, trẻ Đ hiện nay đang sống với mẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy nên giao con cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ. Bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có.

- Về nợ chung: Bà V khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà V phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim V

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn với ông Phạm Tất T

- Về con chung: Giao trẻ Phạm Nguyên Đ, sinh ngày 02/4/2013 cho bà Nguyễn Thị Kim V trực tiếp nuôi dưỡng, bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Tất T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V khai không có

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà V phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0040941 ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Tp Hồ Chí Minh.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ