vanban.org

Bản án 654/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Huỳnh Thị Thu T trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 79.690.909 đồng (Bảy mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, chín trăm lẻ chín đồng) (tạm tính đến ngày 24/09/2025) (trong đó nợ gốc: 35.810.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 43.880.036 đồng) Buộc bà Huỳnh Thị Thu T còn phải thanh toá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Huỳnh Thị Thu T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 654/2025/DS-ST
Ngày: 24 - 09 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ôn Kim Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Ngọc Thủy

2- Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 09 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1084/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 07 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 124/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 08 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 275/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 09 năm 2025 và giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268 Lầu 8, Nam Kỳ Khởi N, phường X (Phường V, Quận L cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng (SACOMBANK): Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm: 1973. Chức danh: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng (SACOMBANK): Ông Lê Ngọc T. Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng S (Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022).

Ông Lê Ngọc T ủy quyền lại cho ông Trần Gia T, sinh năm: 1971. Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng S; Địa chỉ: 278 Nam Kỳ Khởi N, phường X (Phường V, Quận L cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số: 7663/2024/UQ-TGĐ ngày 07/11/2024). (Vắng mặt và nộp đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)

Địa chỉ: E13/17 ấp A, xã V (xã L, huyện C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 11 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có ông Trần Gia T trình bày như sau:

Ngày 04/06/2019, bà Huỳnh Thị Thu T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng, hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ Ladies First; Số thẻ: 486265 – 5495; Hạn mức là 35.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng là ngày 04/06/2019; Lãi suất áp dụng là 2.766%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Huỳnh Thị Thu T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 197.980.594 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà Huỳnh Thị Thu T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 207.938.063 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

- Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước.

- Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước.

- Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước.

- Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ.

- Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ.

- Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Huỳnh Thị Thu T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Huỳnh Thị Thu T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 35.810.873 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do bà Huỳnh Thị Thu T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà Huỳnh Thị Thu T phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 24/09/2025 là 79.690.909 đồng. Cụ thể: Loại thẻ Ladies First có số thẻ là: 486265 – 5495, nợ gốc là 35.810.873, lãi quá hạn là 43.880.036 và lãi suất áp dụng là 4.149% (2.766% x 150%).

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Huỳnh Thị Thu T, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Huỳnh Thị Thu T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị giải quyết những vấn đề đối với bà Huỳnh Thị Thu T là:

Buộc bà Huỳnh Thị Thu T phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với số tiền tạm tính đến ngày 24/09/2025 là 79.690.909 đồng (Bảy mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, chín trăm lẻ chín đồng) trong đó:

- Nợ gốc

: 35.810.873 đồng.

- Lãi quán hạn

: 43.880.036 đồng.

Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/09/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – bà Huỳnh Thị Thu T đã được Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tống đạt tại địa chỉ: E13/17 ấp A, xã V (ấp B, xã L, huyện C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Huỳnh Thị Thu T vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử, bà Huỳnh Thị Thu T không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Huỳnh Thị Thu T vắng mặt không lý do.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Qua tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tòa án và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định bà Huỳnh Thị Thu T có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/06/2019 với hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng, lãi suất 2.766% bà Trúc có kích hoạt thẻ sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn – bà Huỳnh Thị Thu T vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Do đó, bà Trúc phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ chứng minh được quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Về án phí: Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Về quan hệ tranh chấp vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là bà Huỳnh Thị Thu T, địa chỉ cư trú tại xã V (xã A, huyện C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có ông Trần Gia T vắng mặt và có nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Tòa án chấp nhận. Bị đơn – bà Huỳnh Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định là Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.

Về các yêu cầu của các đương sự:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn – bà Huỳnh Thị Thu T phải thanh toán số tiền là: 79.690.909 đồng (tạm tính đến ngày 24/09/2025) (trong đó nợ gốc: 35.810.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 43.880.036 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh) thụ lý số 1084 ngày 17/12/2024 theo đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Huỳnh Thị Thu T về việc thanh toán nợ do vi phạm hợp đồng tín dụng. Theo phiếu xác minh số: 4741/TAHBC ngày 30/12/2024 gửi Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Công an xã Vĩnh Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh) xác nhận: “Đương sự Huỳnh Thị Thu T, sinh năm: 1994 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại E13/17 Ấp L (Tổ T, Ấp Y cũ), xã V (xã A, huyện C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Hiện đương sự Trúc đang cư trú tại 42/3A Trần Hưng Đ, phường T (phường S, quận P cũ), Thành phố Hồ Chí Minh”. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh) gửi công văn số 363/TAHBC ngày 18/02/2025 đề nghị Công an phường Tân Sơn Nhì xác minh nơi cư trú của bà Huỳnh Thị Thu T thì có kết quả xác minh như sau: “Bà Huỳnh Thị Thu T không có đăng ký thường trú, không có đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại 42/3A Trần Hưng Đ, phường T (phường S, quận P cũ), Thành phố Hồ Chí Minh”. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/06/2019 mà bị đơn đã ký với nguyên đơn có ghi địa chỉ của bị đơn cư trú: E13/17 Ấp B, xã V (Tổ K, Ấp T, xã A, huyện C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao quy định bị đơn theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản, nếu có thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc mới mà không thông báo cho người giao dịch hoặc ký hợp đồng biết về nơi cư trú, làm việc mới đó thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ và Toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung là đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/06/2019, số thẻ: 486265-5495 (loại thẻ Ladies First), hạn mức: 35.000.000 đồng, lãi suất áp dụng: 2,766%/tháng, bị đơn đã thực hiện kích hoạt thẻ, giao dịch với số tiền tổng cộng là 25.894.900 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 207.938.063 đồng thì ngưng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được quy định tại các điều khoản ghi trong hợp đồng nên ngày 23/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, tính đến ngày 24/09/2025 thì bị đơn còn nợ 79.690.909 đồng (trong đó nợ gốc: 35.810.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 43.880.036 đồng). Do đó, có cơ sở xem xét yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng.

Bị đơn không liên hệ nguyên đơn để thương lượng thỏa thuận giải quyết số nợ còn thiếu, kéo dài thời gian trả nợ, không cung cấp hay thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới, nơi làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình coi như từ bỏ quyền trình bày của mình tại phiên tòa. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao; Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 79.690.909 đồng (tạm tính đến ngày 24/09/2025) (trong đó nợ gốc: 35.810.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 43.880.036 đồng), ngoài ra bị đơn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/09/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

- Buộc bà Huỳnh Thị Thu T trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 79.690.909 đồng (Bảy mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, chín trăm lẻ chín đồng) (tạm tính đến ngày 24/09/2025) (trong đó nợ gốc: 35.810.873 đồng, nợ lãi quá hạn: 43.880.036 đồng)

- Buộc bà Huỳnh Thị Thu T còn phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 25/09/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

- Các đương sự có quyền thỏa thuận nơi thực hiện việc giao nhận tiền. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được thì thực hiện việc giao nhận tiền tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.984.545 đồng (Ba triệu, chín trăm tám mươi tư nghìn, năm trăm bốn mươi lăm đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là 1.586.160 đồng (Một triệu, năm trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0051468 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ