vanban.org

Bản án 650/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị T. Bà Hoàng Thị T và ông Trần Quốc K được ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 00152/2002, quyển số 01/2002 ngày 13/12/2002 đăng ký tại UBND phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).

Về con chung: Con chung tên Trần Hoàng Kim N, sinh ngày 21/6/2003, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị T. Bà Hoàng Thị T và ông Trần Quốc K được ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 00152/2002, quyển số 01/2002 ngày 13/12/2002 đăng ký tại UBND phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 650/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Đẹp

2. Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc D - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1204/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: 49/59/20 ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: 49/59/20 ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:

Bà và ông Trần Quốc K tự nguyện chung sống năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002. Giấy chứng nhận kết hôn số 00152/2002, quyển số 01/2002 ngày 13/12/2002. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân do ông K không chăm lo cho gia đình, không yêu thương bà và con, dẫn đến bà bị áp lực về kinh tế và bản thân tự nuôi dạy con cái, tình cảm vợ chồng không còn, không hạnh phúc, không thể nói chuyện với nhau để đưa ra giải pháp đoàn tụ. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Quốc K.

- Về con chung: Có một con chung tên Trần Hoàng Kim N, sinh ngày 21/6/2003 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với phía bị đơn là ông Trần Quốc K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn vắng mặt có đơn hợp lệ, bị đơn vắng mặt Toà án đã thực hiện thủ tục tống đạt đảm bảo đúng quy định.

+ Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Hoàng Thị T và ông Trần Quốc K được ly hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Hoàng Thị T khởi kiện ly hôn với ông Trần Quốc K, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; ông Trần Quốc K là bị đơn có địa chỉ thường trú: ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Theo trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà T và ông K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp.

2.1 Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông K có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau, bất đồng quan điểm, bà T cho rằng ông K và bà không nói chuyện tìm giải pháp đoàn tụ, ông K không quan tâm đến gia đình, bản thân bà bị áp lực vừa lo kinh tế, vừa lo cho con. Bà không còn yêu thương, không còn muốn chung sống cùng ông K. Ông Trần Quốc K vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền lợi của mình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông K lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

1.Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội và lý do chính đáng.

2.2 Nhận thấy, bà T và ông K không còn yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có giải pháp đoàn tụ. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị T là phù hợp.

Về con chung: Bà T trình bày bà và ông K có một con chung tên Trần Hoàng Kim N, sinh ngày 21/6/2003, con chung đã trưởng thành, không có yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông K vắng mặt nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông K vắng mặt nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thị T. Bà Hoàng Thị T và ông Trần Quốc K được ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 00152/2002, quyển số 01/2002 ngày 13/12/2002 đăng ký tại UBND phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Về con chung: Con chung tên Trần Hoàng Kim N, sinh ngày 21/6/2003, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0004300 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn,Thành phố Hồ Chí Minh (ghi nhận đã nộp xong).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ