- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2026/HSST Ngày 26/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tưởng Thị Tuyết.
2. Đinh Thị Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thuỳ Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Khoái - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2026/TLST- HS, ngày 06 tháng 8 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST- HS ngày 12/8/2026 đối với bị cáo.
Lò Văn L (tên gọi khác: Không) sinh ngày 09/9/1987, tại: Tỉnh L; Căn cước công dân số: 01208700xxxx; cấp ngày 25/04/2024; nơi cấp: Bộ Công an; nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Trình độ văn hoá: 1/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Bố đẻ Lò Văn A (đã chết); Mẹ đẻ Phan Thị C(đã chết); Vợ: Tòng Thị L, sinh năm 1996 (đã ly hôn năm 2016) ; Con: Lò Thị Bảo T, sinh năn 2015. Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Nhân Thân: Bản án sơ thẩm số 61/2012, ngày 25/09/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Xử phạt Lò Văn L 24 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’, bị cáo chấp hành xong án phí, hình phạt ngày 26/05/2014, đến ngày phạm tội lần này đã được xóa án tích.
Ngày 18/02/2025, Lò Văn L bị Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh L (nay là UBND phường T) áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 107, thời gian 01 năm từ ngày 18/02/2025. Ngày 18/02/2026, Ủy ban nhân dân phường T ra Quyết định số 164 chấm dứt quản lý đối với bị can.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2026. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến : Bà Phan Thị Hằng, sinh năm 1972; trú tại: Thôn Hoà Sử P, xã T, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau: Hồi 14 giờ 45 phút, ngày 29/4/2026 Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai phối hợp với tổ công tác theo kế hoạch 373 Công an tỉnh Lào Cai và Công an xã T tiến hành tuần tra tại đường tỉnh lộ 152 thuộc khu vực thôn Vạn Dền S, xã T, tỉnh Lào Cai, phát hiện Lò Văn L, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố San T, phường T, tỉnh Lai Châu, đang dừng đỗ xe mô tô BKS 25B1-557.19 ở ven đường, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã mời bà Phan Thị H, sinh năm 1972, trú tại thôn Hòa Sử P, xã T, tỉnh Lào Cai là người chứng kiến, tiến hành việc kiểm tra đối với Lò Văn L. Quá trình kiểm tra Lò Văn L tự giác lấy từ trong tất đang đi ở chân bên trái ra 01 (một) gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục và khai nhận là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn thu giữ của Lò Văn L 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro, số IMEI 860688077498922/11, máy cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel màu xanh bạc BKS 25B1-557.19, xe cũ đã qua sử dụng, vỏ xe vỡ nát; 01 (một) đăng ký xe mô tô số 047538 mang tên Lý A Cở; 01 (một) tất chân màu đen.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Lò Văn L, kết quả: Dương tính với Morphine (Heroine).
Tại bản kết luận giám định số 481/KL-KTHS ngày 04/05/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,175 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn L ngày 29/4/2026 là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra Lò Văn L khai. Khoảng 13 giờ ngày 29/04/2026, Lò Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, BKS 25B1-557.19 đi từ nhà tại Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Lai Châu đến khu vực thôn V D S, xã T, tỉnh Lào Cai, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến gần khu vực cây xăng thuộc thôn V D S, Lò Văn L gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. L hỏi và mua được của người đàn ông này 01 (một) gói ma túy được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau đó L cất gói ma túy vào trong tất đang đeo ở chân bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến khu vực cống ven đường, thuộc địa phận thôn V D S , xã T, L dừng xe và lấy gói ma túy ra sử dụng một ít. Số ma túy còn lại, L lại cất vào trong tất đang đeo ở chân bên trái rồi điều khiển xe mô tô tiếp tục đi về. Khi đang dừng đỗ xe ở ven đường tỉnh lộ 152, thuộc địa phận thôn V D S, xã T, tỉnh Lào Cai thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.
Cáo trạng số 43/CT-VKSLCI-KV ngày 05 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai, truy tố bị cáo Lò Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai, giữ nguyên nội dung cáo trạng, quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ khối lượng ma tuý còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ, được tái niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và 01 chiếc tất chân màu đen. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel màu xanh bạc BKS 25B1-557.19, xe cũ; số khung 11EDJD0074, số máy: MVCGBD000740 và 01 (một) đăng ký xe mô tô số 047538 mang tên Lý A Cở; 01 chiếc tất chân màu đen. Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro, số IMEI 860688077498922/11, đã qua sử dụng của bị cáo Lò Văn L để đảm bảo thị hành án.
+ Về án phí: Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lò Văn L không có ý kiến tự bảo chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo sớm được hòa nhập với cộng đồng và đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát Điều tra; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Lò Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà và trong giai đoạn điều tra phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ kết luận. Hành vi của bị cáo Lò Văn L đã mua và tàng trữ 0,175 gam He roine với mục đích để sử dụng cho bản thân, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự, trị an ở địa phương, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy thoái giống nòi, là mầm mống dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và quyết định mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Đối với bị cáo L là người có nhân thân sấu, đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, bị cáo lại tái nghiện và phạm tội mới. Nên phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn L không có tình tiết tăng nặng; được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lò Văn L không có tài sản, việc làm và thu nhập ổn định. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về vật chứng còn lại gồm: 0.140 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ, được tái niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và 01 chiếc tất chân màu đen là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng. Nên tịch thu tiêu huỷ; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel màu xanh bạc BKS 25B1-557.19, xe cũ; số khung 11EDJD0074, số máy: MVCGBD000740 và 01 (một) đăng ký xe mô tô số 047538 mang tên Lý A Cở là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý. Nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro, số IMEI 8606880 là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội. Do bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về những vấn đề liên quan đến vụ án: Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn L, không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Đối với người đàn ông dân tộc mông, bị cáo L khai đã bán ma tuý cho bị cáo. Qua điều tra không xác minh được căn cước, lai lịch, địa chỉ. Nên không xử lý được.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
ma tuý”
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 29/4/2026.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 0,140 (không phẩy một trăm bốn mươi) gam Heroine còn lại sau trích mẫu cùng toàn bộ bì niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì thư ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn L ngày 29/4/2026 tại tỉnh lộ 152 thôn Vạn Dền Sử 1, xã Tả Van, tỉnh Lào Cai” và 01 chiếc tất chân màu đen. Tich thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel màu xanh bạc BKS 25B1-557.19, xe cũ, vỏ xe vỡ nát; số khung 11EDJD0074, số máy: MVCGBD000740 và 01 (một) đăng ký xe mô tô số 047538 mang tên Lý A Cở. Tạm giữ của bị cáo Lò Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 Pro, số IMEI 8606880 (đã qua sử dụng). Để đảm bảo thi hành án.
( Hiện nay vật chứng đang được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai quản lý theo phiếu nhập kho vật chứng số 94/PNK-PC10 ngày 20/8/2026)
5. Về án phí: Bị cáo Lò Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36, Điều 72 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 7- Lào Cai; - Bị cáo L; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh LC (PV06); - Phòng THADS khu vực 7- Lào Cai; - CQCSĐT Công an tỉnh Lào Cai; - CQTHAHS Công an tỉnh Lào Cai; - Trai tạm giam số 1 CA tỉnh Lào Cai. - Lưu HS- VP - THS-THAHS (6); | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Đức Quang |