vanban.org

Bản án 65/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/03/2026). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2026/HS-ST
Ngày 13 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh và bà Vũ Thị Tình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 59/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh ngày 28/11/1987; Số Căn cước công dân 035087003211; nơi cư trú: Thôn Ô, xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Đ và bà Cao Thị K; có vợ là Trần Thị P và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú"; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980 (đã chết);

- Những người đại diện theo pháp luật của bị hại Phạm Thị H:

1. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1958 (mẹ đẻ chị H); nơi cư trú: Tổ B, phường L, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

2. Cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 13/02/1999 (con trai chị H); nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

3. Cháu Nguyễn Phan Thủy T1, sinh ngày 17/01/2007 (con gái chị H); nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

* Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại là: Anh Nguyễn Đức T, sinh ngày 13/02/1999 (con trai bị hại); nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Trần Thị P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Ô, xã B, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

2. Công ty cổ phần C; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, xã T, tỉnh Ninh Bình; người đại diện theo pháp luật: ông Trần Xuân Đ1, chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1974; vắng mặt.

2. Anh Lê Văn S, sinh năm 1989; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 16/11/2025, Nguyễn Thành L có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe trộn bê tông BKS 90H-027.90 đi từ trạm trộn bê tông của Công ty Cổ phần C và bê tông Vina68 địa chỉ tại tổ dân phố Đ, xã T, tỉnh Ninh Bình đến tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình để đổ bê tông. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi đổ bê tông xong thì L điều khiển xe ô tô trộn bê tông đi đường ngõ thuộc tổ dân phố T, phường P để ra Quốc lộ B (đường L) về trạm trộn theo hướng Quốc lộ A. Khi L điều khiển xe trộn bê tông đi tới đầu ngõ thuộc tổ dân phố T giao với Quốc lộ B, L bật xi nhan phải để rẽ phải nhưng lúc này trên đường Q đang có nhiều phương tiện khác lưu thông nên L chưa thể điều khiển cho xe ô tô chuyển hướng được, L nhấn phanh xe, cho xe dừng cách mép đường bên phải khoảng 80cm và đợi để rẽ phải ra đường Q. Luân đợi khoảng hơn một phút thì thấy lưu lượng phương tiện trên Quốc lộ B ít dần nên L điều khiển xe di chuyển để chuyển hướng rẽ phải nhưng L không quan sát hết toàn bộ phía bên phải xe ô tô và phần đường bên phải mà L muốn rẽ phải dẫn đến má ngoài bánh trước bên phải xe ô tô BKS 90H-027.90 do L điều khiển đã đâm vào ốp đèn xin nhan phía sau bên trái xe mô tô BKS 90AB-127.43 do chị Phạm Thị H, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình điều khiển chở cháu Nguyễn Phan Thủy T1, sinh năm 2007, trú tại tổ dân phố T, phường P đang di chuyển định rẽ trái về phía đường L khiến chị H bị ngã xuống đường, bánh trước xe ô tô của L điều khiển đã cán qua người chị H. Hậu quả chị H tử vong tại chỗ, cháu T1 không bị thương tích gì, xe mô tô bị hư hỏng.

* Vật chứng, tài sản thu giữ:

- 01 giấy phép lái xe hạng C số 350228004796 mang tên Nguyễn Thành L.

- 01 xe ô tô tải trộn bê tông màu sơn trắng, BKS 90H - 027.90; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số 1200014 cấp ngày 18/07/2025, có giá trị đến ngày 17/01/2026 do Sở xây dựng tỉnh N cấp; 01 Giấy chứng nhận điện tử bảo hiêm xe ô tô số 250384679, cấp ngày 03/07/2025, có giá trị từ 05/07/2025 đên ngày 05/07/2026 do Tổng công ty B cấp.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đen vàng BKS 90AB-127.43, 01 giấy phép lái xe mô tô số AE435414 mang tên Phạm Thị H, 01 đăng ký xe mô tô số 90002112, biển số đăng ký 90AB-127.43, tên chủ xe Nguyễn Đức T.

- Anh Trần Ngọc T3 sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố T, phường P giao nộp 01 đĩa DVD lưu trữ video có liên quan đến vụ án được niêm phong ký hiệu "M1".

- Thu mẫu máu trong quá trình khám nghiệm tử thi của chị Phạm Thị H niêm phong ký hiệu M để phục vụ công tác giám định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường (dấu vết chính):

Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 68+550 Quốc lộ B khu vực giao nhau giữa đường Q với đường đi vào tổ dân phố T và đường đi ra ruộng thuộc tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình. Đường Quốc lộ 21B là đường đôi có dải phân cách giữa dạng bó vỉa phân chia hai chiều đi, chiều nút giao Liêm T4 đi Quốc lộ A và ngược lại. Tại khu vực giao nhau đoạn mở dải phân cách giữa dài 19,85m; ở hai đầu đoạn mở dải phân cách giữa có gắn biển báo P102 "Cấm đi ngược chiều". Ở bên phải đường có cắm biển báo W207A "Giao nhau với đường không ưu tiên".

(1) Xe ô tô tải BKS 90H-027.90, loại xe ô tô trộn bê tông, xe đỗ trên đường Q chiều đường nút giao Liêm T đi Quốc lộ A, trong khu vực giao nhau giữa đường Q + đường đi vào Tổ dân phố T + Đ2 đi ra ruộng, xe đỗ chếch chéo trên đường, đầu xe hướng ra tim đường Quốc lộ 21B, về phía đi Quốc lộ A, đuôi xe chếch hướng vào đường đi Tổ dân phố T, phường P. Trục bánh trước ở trạng thái chếch từ trái sang phải, tâm ngoài trục thứ nhất (tính từ trên xuống dưới) bên phải, tại vị trí mép ngoài mặt lăn lốp cách mép chuẩn 3,94m.

(2) Xe mô tô BKS 90AB-127.43 đổ nghiêng bên phải trên đường Quốc lộ 21B chiều đường nút giao Liêm T đi Quốc lộ A, ở bên phải xe ôtô ký hiệu số (1) tư thế chếch chéo, đầu xe hướng vào mép chuẩn về phía đi Quốc lộ A, đuôi xe chếch ra tim đường Quốc lộ 21B về phía đi nút giao Liêm T4.

(3) Tử thi nữ giới nằm xấp trên mặt đường Q chiều đường nút giao Liệm T đi Quốc lộ A, ở phía sau, bên phải bánh lốp thứ nhất (tính từ trên xuống dưới) bên phải của xe ô tô ký hiệu số (1)... tư thế ngang đường, đầu hướng ra tim đường Quốc lộ 21B... Đầu tử thi bị dập bẹp có đội mũ bảo hiểm dạng nửa đầu màu xanh bị vỡ.... Bàn chân trái bị dập, gót bàn chân này cách mép chuẩn 2,84m.

(4) Vết trượt sạt mặt đường Quốc Lộ 21B chiều đường nút giao Liêm T đi Quốc Lộ A, có kích thước dài 1,52m, chỗ rộng nhất 0,14m, ở dưới gầm bên trái xe ô tô ký hiệu số (1), có hướng chếch nút giao Liêm T đi Quốc lộ A, hướng ra tim đường Quốc lộ 21B.

(5) Đám nhựa vỡ màu xanh, trong suốt, dép dải rác trên mặt đường Quốc lộ 21B ở phía dưới gầm và phía trước xe ô tô ký hiệu số (1), có kích thước trên diện (6,15x1,25)m..

* Kết quả khám xe ô tô trộn bê tông BKS 90H-027.90 màu sơn trắng (dấu vết chính):

- Cạnh ngoài ốp kim loại bậc lên xuống bên phải cabin có vết trượt sạt bụi đất, bụi đá, bề mặt bám dính chất màu đen trên xe, diện (23x2.5)cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 62,5 cm.

- Mặt lăn bánh trước bên phải rộng 25cm, mòn đều, hoa văn mặt lăn dạng các đa giac... Má ngoài lốp này có vết trượt cao su sạch bụi đất, bề mặt bám dính chất màu trắng dạng mika, kích thước (15x4)cm hướng ngược chiều tịnh tiến của bánh xe từ mặt lăn vào tâm trục.

- Mặt lăn và má lốp ngoài bánh trước bên phải bám dính tổ chức màu nâu đỏ đã khô nghi máu và tổ chức dạng cơ thể, vết trượt cao su sạch bụi đất trên cung dài 86cm rộng 40cm, hướng ngược chiều tịnh tiến của bánh xe... Mặt trong phần sau chắn bùn bánh này có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, tổ chức dạng cơ thể rải rác trong toàn bộ mặt trong chắn bùn.

- Thanh kim loại bảo vệ bình hơi bên phải xe, sơn màu đỏ trắng, bên ngoài phủ nhiều bụi đất, loang sơn đã cũ. Mặt trước ngoài, dưới đầu trước thanh kim loại phía dưới có vết trượt sạch bụi đất mất chất màu đen, mất sơn màu đỏ, mải sạt kim loạt, kích thước (6,5x2,5)cm hướng từ trước về sau, từ đưới lên trên. Mặt trong và mặt trên phần đầu thanh kim loại này có vết trượt bụi đất, bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, tổ chức dạng cơ thể trên diện (22x10)cm, hướng từ trước về sau.

- Mặt trước bình hơi thứ nhất tính từ trước về sau, bên phải có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu tổ chức dạng cơ thể, trên diện (34x14)cm; hướng từ trước về sau.

* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 90AB-127.43, màu sơn đen vàng (dấu vết chính):

- Ốp gương chiếu hậu bên phải mặt trước có vết mài sạt kích thước (14x4)cm hướng từ trước về sau.

- Đầu gù tay nắm bên phải có vết mài sạt, kích thước (2x1)cm hướng từ trước về sau, trên xuống dưới. Mặt ngoài đầu nút tay phanh bên phải có vết mài sạt kích thước (1x1)cm hướng từ dưới lên trên.

- Cạnh ngoài cánh yếm chắn gió phía trước bên trái có vết trượt mài sạt, mất sơn màu đen kích thước (11x3,5)cm, hướng từ sau về trước, từ dưới lên trên.

- Ốp nhựa gầm xe phía dưới để chân trước bên trái bị bung bật khỏi chốt ngăn, xô lệch theo hướng từ phải sang trái. Ốp kim loại sàn để chân này tại phần cuối cong vênh theo hướng từ dưới lên trên.

- Mặt ngoài ốp bảo vệ ống bô có vết trượt mài sạt không liên tục, kích thước (42x8)cm; hướng từ dưới lên trên.

- Mặt ngoài phần đuôi ốp sườn xe bên trái và mặt trên phần ốp đuôi xe bên trái và mặt ngoài ôp mika đèn xi nhan phía sau bên trái có vết trượt bề mặt bám dính bụi đất trên diện (18x2,5)cm, hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước...Ốp meka tại vị trí này bị vỡ.

- Mặt sau ốp meka BKS phía sau và mặt sau nửa phía trên khung kim loại BKS có vết trượt mài sạt bề mặt bám dính chất màu đen, bụi đất và chất màu đỏ nghi sơn, trên diện (19,5x5)cm, hướng từ sau ra trước từ phải sang trái, điểm thấp nhất cách mặt đất 49cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi nạn nhân Phạm Thị H (những dấu vết chính):

- Khám ngoài:

+ Vùng đầu, mặt, cổ: Toàn bộ vùng đầu, mặt bám dính nhiều máu và tổ chức não. Từ vùng giữa mũi lên vùng giữa trán - đỉnh cách đường chân tóc trán 5cm có diện dập, rách, lóc da kích thước (25x18)cm, bờ mép tương đối gọn, có vùng nham nhở, để lộ xương hộp sọ - hàm mặt vỡ phức tạp và tổ chức não dập nát, thoát ra ngoài. Đầu, mặt biến dạng hướng từ phải sang trái. Hai nhãn cầu dập nát, tụt vào phía trong. Hai lỗ tai, mũi, miệng có nhiều dịch máu.

+ Vùng ngực, bụng, lưng, chậu hông - sinh dục:

+ Gãy kín cung trước các xương sườn VII, VIII, IX, bên trái. Ngực phải, khung chậu vững; da vùng ngực phải, bụng, lưng, chậu hông - sinh dục không có dấu vết, tổn thương.

- Khám trong:

+ Mở rộng vết rách da vùng đầu, mặt: Vỡ phức tạp các xương hộp sọ, các xương hàm mặt thành nhiều mảnh, có mảnh rời làm đầu, mặt biến dạng hoàn toàn hướng từ phải sang trái. Rách phức tạp màng não cứng tương ứng với các đường vỡ xương. Tổ chức não đứt rời khỏi vị trí giải phẫu, đập nát, thoát hoàn toàn ra ngoài.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1947 ngày 02/12/2025 của Phòng K1

- Công an tỉnh N, kết luận:

"Nguyên nhân chết của Phạm Thị H: Chấn thương sọ não (Vỡ xương hộp sọ, dập não, thoát não). Kết luận khác: không".

Tại bản Kết luận giám định dấu vết cơ học số 2008 ngày 05/12/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh N ra, kết luận:

"- Vị trí va chạm đầu tiên: Dấu vết trượt cao su, trùi sạch bụi đất bề mặt bám dính chất màu trắng liti dạng meka tại má ngoài bánh trước bên phải xe ô tô BKS 90H-027.90 với dấu vết trượt bề mặt bám dính bụi đất tại mặt trên ốp bên trái đuôi xe và dấu vết trượt, vỡ ốp meka bề mặt bám dính bụi đất tại mặt trên, ngoài ốp meka đèn xin nhan phía sau bên trái xe mô tô BKS: 90AB-127.43.

- Tại thời điểm xảy ra va chạm: Xe ô tô BKS 90H-027.90 chuyển động theo hướng từ đường tổ dân phố Thá chuyển hướng rẽ phải vào đường Q; Xe mô tô BKS 90AB-127.43 có hướng từ đường tổ dân phố Thá về phía khoảng mở dải phân cách giữa đường Q.

- Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước vị trí xe mô tô ký hiệu (2) về phía đường đi tổ dân phố Thá được ghi nhận trong biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường thuộc khu vực giao nhau giữa đường Q với đường đi vào tổ dân phố T và đường đi ra đồng ruộng."

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 05/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường P, kết luận:

"- Phần hư hỏng thiệt hại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn: Đen - Vàng, BKS: 90AB-127.43, số khung: RLHJK1403N2Z272687, số máy: JK14E0159235, xe đã qua sử dụng là: 2.970.000đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng)".

Kết quả tra cứu, xác minh thông tin giấy phép lái xe của chị Phạm Thị H và Nguyễn Thành L của Phòng C1 Công an tỉnh N:

"- Công dân Phạm Thị H, sinh năm 1980, trú tại xã L, thị xã P, tỉnh Hà Nam (cũ); đã được Sở giao thông vận tải tỉnh H (cũ) cấp giấy phép lái xe hạng A1, số AE435414, ngày cấp 17/01/2008, không có thông tin về việc bị tước, trừ điểm giấy phép lái xe.

- Công dân Nguyễn Thành L, sinh ngày 28/11/1987, trú tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam (cũ), số CCCD 035087003211; đã được Sở giao thông vận tải tỉnh H (cũ) cấp giấy phép lái xe hạng C, số 350228004796, ngày cấp 20/09/2022, ngày hết hạn 20/9/2027, không có thông tin về việc bị tước, trừ điểm giấy phép lái xe".

Tại bản Kết luận giám định độc chất số 911 ngày 24/11/2025 của Viện Pháp y Q, kêt luận trong mẫu máu tử thi Phạm Thị H: "Mẫu máu: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy".

Tại phiếu đo nồng độ cồn do Phòng C1 Công an tỉnh N lập vào hồi 09 giờ 57 phút ngày 16/11/2025 đối với Nguyễn Thành L, kết quả: 0,000mg/L.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm số XN251116000043 của Phòng khám Đ3 lập vào hồi 14 giờ 15 phút ngày 16/11/2025 đối với Nguyễn Thành L để kiểm tra chất ma túy, kết quả: Âm tính.

Kết quả khai thác dữ liệu điện tử đối với 01 đĩa DVD niêm phong ký hiệu M1, kết quả: Dữ liệu trong đĩa DVD có 01 đoạn video dài 05 phút 01 giây ghi lại hình ảnh vụ tai nạn, Nguyễn Thành L điều khiến xe ô tô tải trộn bê tông khi chuyển hướng rẽ phải ra đường B đã va chạm với chị Phạm Thị H đang chở cháu Nguyễn Phan Thủy T1 ngồi sau khiến phần bánh xe bên ghế phụ của xe ô tô L điều khiển chèn qua người chị H, hậu quả làm chị H tử vong tại hiện trường.

* Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ: Trong giai đoạn điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Công ty CP C và bê tông VINA68 xe ô tô và giấy tờ xe kèm theo. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đen vàng, BKS 90AB-127.43 và giấy tờ xe, giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị H cho anh Nguyễn Đức T là đại diện gia đình.

Đối với một giấy phép lái xe ô tô hạng C số 350228004796 mang tên Nguyễn Thành L là giấy tờ hợp pháp của bị cáo được chuyển từ kho vật chứng của Công an tỉnh N đến kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 Ninh Bình để phục vụ công tác xét xử thi hành án.

Lưu trữ kèm hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ video có liên quan đến vụ án được niêm phong ký hiệu "MI".

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra Nguyễn Thành L và gia đình đã bồi thường cho đình chị Phạm Thị H số tiền 300.000.000 đồng, gia đình chị H đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm bỗi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 151/CT-VKS-KV5 ngày 12/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Thành L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị Nguyễn Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt Nguyễn Thành L từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng. Hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo từ 1 đến 2 năm. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét. Xử lý vật chứng: Trả lại cho Nguyễn Thành L 01 giấy phép lái xe hạng C số 350228004796 mang tên Nguyễn Thành L. Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ video có liên quan đến vụ án được niêm phong ký hiệu "MI". Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Thành L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Chị Trần Thị P không tranh luận đối đáp gì đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục: Đại diện hợp pháp của bị hại và người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Công ty cổ phần C 68 và người làm chứng ông Trần Văn T6 và ông Lê Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra các đương sự trên đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.

Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu, giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở để xác định:

Khoáng 08 giờ ngày 16/11/2025, tại khu vực giao nhau giữa Quốc lộ B với đường đi vào tổ dân phố T thuộc tổ dân phố T, phường P, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Thành L có Giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô trộn bê tông BKS 90H-027.90 đi từ đường T rẽ phải ra đường Quốc lộ 21B theo hướng Quốc lộ A đã không chú ý quan sát phía bên phải xe khi chuyển hướng dẫn đến má ngoài bánh trước bên phải xe ô tô BKS 90H-027.90 do L điều khiển đã đâm vào ốp đèn xin nhan phía sau bên trái xe mô tô BKS 90AB-127.43 do chị Phạm Thị H điều khiển chở con gái ngồi phía sau là cháu Nguyễn Phan Thủy T1 đang di chuyển định rẽ trái về phía đường L khiến chị H bị ngã xuống đường, bánh trước xe ô tô BKS 90H-027.90 cán qua người chị H làm chị H tử vong tại chỗ, xe mô tô BKS 90AB-127.43 bị hư hỏng thiệt hại 2.970.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành L đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả làm chị Phạm Thị H tử vong, đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với Nguyễn Thành L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực tác động gia đình “tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại”, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn bản thân là lao động chính trong gia đình, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng của chị H, đến tài sản của cá nhân, tổ chức khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi gây tai nạn, bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025, hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo trong một thời gian nhất định.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra Nguyễn Thành L và gia đình đã tự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự cho đại diện bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện bị hại đã nhận và có đơn nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho và không yêu cầu gì khác về trách nhiệm bồi thường dân sự; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe ô tô BKS 90H-027.90 và giấy tờ xe kèm theo, xe mô tô BKS 90AB-127.43 và giấy tờ xe, Giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị H, trong giai đoạn điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Công ty CP C và bê tông VINA68 xe ô tô và giấy tờ xe kèm theo. Trả lại xe mô tô và giấy tờ xe, Giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị H cho anh Nguyễn Đức T là đại diện gia đình bị hại. Việc trả lại vật chứng đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 350228004796 tên Nguyễn Thành L.

- Anh Trần Ngọc T3 sinh năm 1981, trú tại tổ dân phố T, phường P giao nộp 01 đĩa DVD lưu trữ video có liên quan đến vụ án được niêm phong ký hiệu "M1" cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/03/2026).

Giao bị cáo Nguyễn Thành L cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình và gia đình bị cáo cùng phối hợp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Nguyễn Thành L trong thời hạn 1 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 giấy phép lái xe hạng C số 350228004796 mang tên Nguyễn Thành L.

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ video có liên quan đến vụ án được niêm phong ký hiệu "M1".

(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/02/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị P có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần C 68 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.

Cỡ chữ