vanban.org

Bản án 65/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bàn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Ma Doãn D (Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 22/01/2020 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang – Nay là UBND xã M, tỉnh Tuyên Quang). Về con chung: Giao cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018 cho anh Ma Doãn D trực tiếp trông nom, chăm s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bàn Thị T - Ma Doãn D ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bàn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 7 - 2026
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Văn Hần

Bà Đàm Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Thụy – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 20/2026/TLST-HNGĐ, ngày 18/3/2026 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2026/QĐST – HNGĐ, ngày 17/6/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bàn Thị T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Anh Ma Doãn D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Nguyên đơn chị Bàn Thị T có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ma Doãn D vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Bàn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ma Doãn D tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2018, đến ngày 22/01/2020 mới đến UBND xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nay là UBND xã M, tỉnh Tuyên Quang đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nay là thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên cãi vã, mắng chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải nhưng hai vợ chồng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung mà ngày càng trầm trọng hơn nên đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Ma Doãn D đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, nuôi dạy con cái trưởng thành được nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ma Doãn D, để giải phóng cho cả hai đi tìm cuộc sống mới, hạnh phúc của riêng mình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Ma Doãn D có 01 con chung là cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu K vẫn sống cùng với bố và ông bà nội nên khi ly hôn chị nhất trí giao cháu Ma Đăng K cho anh Ma Doãn D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống chị và anh Ma Doãn D sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh D là ông Ma Doãn B và bà Ma Thị H nên chưa tạo lập được tài sản, đất đai gì chung, vợ chồng chị cũng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn anh Ma Doãn D không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị T.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và ông Ma Doãn B là cha đẻ của bị đơn anh Ma Doãn D, nội dung thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau ngày cưới, vợ chồng chị T, anh D về chung sống cùng gia đình bố mẹ đẻ anh D là ông Ma Doãn B, bà Ma Thị H tại thôn K, xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang). Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn mà càng trầm trọng thêm nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Do đó, chính quyền địa phương và người thân thích của anh Ma Doãn D nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D đã đến mức độ trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bàn Thị T đối với anh Ma Doãn D theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D có 01 con chung là cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018. Kể từ khi chị T và anh D sống ly thân thì cháu Ma Đăng K vẫn sống cùng bố và ông bà nội. Cháu Ma Đăng K vẫn được anh D và ông bà nội chăm sóc, cho học hành đầy đủ.

Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh D là ông Ma Doãn B, bà Ma Thị H nên chưa tạo lập được tài sản, đất đai chung; cũng không có vay nợ chung.

Về hộ khẩu thường trú: Kể từ khi kết hôn chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang) do ông Ma Doãn B là chủ hộ gia đình. Sau khi phát sinh mâu thuẫn chị T đi làm công nhân, sau đó về sống cùng nhà với bố mẹ đẻ tại xã L, tỉnh Tuyên Quang còn anh D đi làm thuê tại thành phố Hà Nội. Thỉnh thoảng anh D có về thăm nhà và thường xuyên liên lạc với gia đình bằng điện thoại. Tuy nhiên, anh D chỉ thông báo là đang đi làm thuê tại thành phố Hà Nội nhưng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và chính quyền địa phương không nắm được hiện tại anh D đang làm việc gì, ở địa chỉ cụ thể nào tại thành phố Hà Nội. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chính quyền địa phương đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sau đó chuyển lại cho người thân trong gia đình anh D để thông báo cho anh D biết việc chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với mình và Tòa án triệu tập anh D đến làm việc, nhưng do đang đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên anh D không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Bàn Thị T thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Ma Doãn D không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bàn Thị T:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Ma Doãn D.

+ Về con chung: Giao cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018 cho anh Ma Doãn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bàn Thị T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của nguyên đơn chị Bàn Thị T thể hiện vợ chồng chị T, anh D không có tài sản, đất đai vay nợ chung; chị T cũng không yêu cầu giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. + Về án phí: Nguyên đơn chị Bàn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn do là người dân tộc thiểu số, cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn anh Ma Doãn D không phải nộp tiền án phí.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:

Chị Bàn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn với anh Ma Doãn D, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ma Doãn D có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương cho thấy bị đơn anh Ma Doãn D có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn chị Bàn Thị T đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn anh Ma Doãn D. Anh Ma Doãn D đi làm ăn xa nhưng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng với chính quyền địa phương. Mặc dù thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không thông báo địa chỉ mới nên gia đình và chính quyền địa phương không rõ anh Ma Doãn D hiện đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể nào. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ) theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Ma Doãn D đã biết được việc chị Bàn Thị T khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng anh D không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Ma Doãn D đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, cố tình vắng mặt nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chị Bàn Thị T có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bàn Thị T thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Ma Doãn D không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào ngày 22/01/2020. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau ngày cưới hai vợ chồng về chung sống tại thôn K, xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn K, xã M, tỉnh Tuyên Quang). Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, không hợp về tính cách, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng thêm nên đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chị Bàn Thị T xác định tình cảm vợ chồng với anh Ma Doãn D đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Ma Doãn D. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Ma Doãn D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D có 01 con chung là cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018. Kể từ khi chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D sống ly thân thì cháu Ma Đăng K sống cùng anh D và ông bà nội là ông Ma Doãn B, bà Ma Thị H, cháu K vẫn được bố và ông bà nội chăm sóc, cho học hành đầy đủ nên nguyên đơn chị Bàn Thị T nhất trí giao cháu Ma Đăng K cho anh Ma Doãn D tiếp tục nuôi dưỡng. Trong biên bản lấy lời khai, cháu Ma Đăng K cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bố và ông bà nội. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ma Doãn D cố tình vắng mặt, không có ý kiến gì về việc giao nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại và theo nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Ma Đăng K cho anh Ma Doãn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bàn Thị T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Quyền yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Ma Đăng K của anh Ma Doãn D sẽ được giải quyết bằng vụ án khác, nếu có yêu cầu.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng chị Bàn Thị T và anh Ma Doãn D không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bàn Thị T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Nguyên đơn chị Bàn Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được miễn do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn anh Ma Doãn D không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bàn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bàn Thị T được ly hôn với anh Ma Doãn D (Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 22/01/2020 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Tuyên Quang – Nay là UBND xã M, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Ma Đăng K, sinh ngày 10/4/2018 cho anh Ma Doãn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Bàn Thị T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Bàn Thị T. Bị đơn anh Ma Doãn D không phải nộp tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Bàn Thị T và bị đơn anh Ma Doãn D được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ