- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L với bị đơn ông Đặng Văn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Đặng Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2026/HNGĐ-ST Ngày 21 - 5 - 2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Tâm;
2. Ông Phạm Văn Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 113/2026/TLST-HNGĐ ngày 11/3/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kiều L, sinh ngày 26/6/1992; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; thường trú: Tổ 8, ấp AP, xã KS, thành phố CTh; tạm trú: Tổ 7, khu phố PC, phường TH, Thành phố HCM; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn S, sinh ngày 16/01/1989; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; thường trú: Ấp HA, xã CM, tỉnh AG; tạm trú: Nhà trọ Phạm Thị Hồng Tr, tổ 7, khu phố PC, phường TH, Thành phố HCM; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L trình bày:
Bà L và ông Đặng Văn S tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn ngày 04/9/2012 tại UBND xã HA, xã CM, tỉnh AG (nay là xã CM, tỉnh AG) theo giấy chứng nhận kết hôn số 159/2012. Thời kỳ hôn nhân, bà L và ông S có 02 con chung tên Đặng Ngô Phúc H, sinh ngày 15/12/2009 và Đặng Thị Ngọc Ng, sinh ngày 23/5/2014. Thời kỳ đầu hôn nhân, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, luôn quan tâm, chăm sóc nhau. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và không còn tiếng nói chung; ai cũng cho mình là đúng, người kia sai nên không có sự tin tưởng, tôn trọng nhau. Hiện tại, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn ông Đặng Văn S.
Về con chung và việc cấp dưỡng: Vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Ngô Phúc H, sinh ngày 15/12/2009 và Đặng Thị Ngọc Ng, sinh ngày 23/5/2014 hiện đang do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con; không yêu cầu ông S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Đặng Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có bản tự khai, không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình, bị đơn cư trú tại phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh; nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Căn cứ các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Đặng Văn S được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà Ngô Thị Kiều L và ông Đặng Văn S có đăng ký kết hôn tại UBND xã HA, xã CM, tỉnh AG (nay là xã CM, tỉnh AG) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 159/2012 ngày 04/9/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà L trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do ông S luôn áp đặt mọi vấn đề và không tôn trọng bà L nên vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung và mỗi người đều cho mình đúng, người kia sai nên không có sự tin tưởng nhau.
Ông S đã được niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông S tham gia hòa giải nhưng ông S đều vắng mặt không lí do. Mặc dù biết bà L xin ly hôn nhưng ông S không đến Tòa án trình bày nguyện vọng đoàn tụ để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, điều này cho thấy ông S đã không quan tâm đến việc hôn nhân với bà L, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà L là có cơ sở để chấp nhận.
Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Ngô Phúc H, sinh ngày 15/12/2009 và Đặng Thị Ngọc Ng, sinh ngày 23/5/2014. Bà L có bản tự khai yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và hiện 02 con đang được bà trực tiếp chăm sóc. Xét thấy, cháu H và cháu Ng hiện nay đang sống với bà L nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng đến tâm lý, sự phát triển bình thường của trẻ. Bà L tự khai có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu Đặng Ngô Phúc H và Đặng Thị Ngọc Ng cho bà L nuôi dưỡng. Bà L tự nguyện không yêu cầu ông S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị Kiều L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 147, 228, 238, 266, 269, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Đặng Văn S.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L được ly hôn với ông Đặng Văn S.
- Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung tên Đặng Ngô Phúc H, sinh ngày 15/12/2009 và Đặng Thị Ngọc Ng, sinh ngày 23/5/2014 cho bà Ngô Thị Kiều L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đặng Văn S không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bà Ngô Thị Kiều L và ông Đặng Văn S đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Ngô Thị Kiều L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013499 ngày 03/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND xã Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp |