vanban.org

Bản án 65/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Kim T đối với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Giao con chung tên Lê Thúy H, sinh ngày 22/8/2024, cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Kim T "Ly hôn" Lê Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Kim T đối với anh Lê Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 17-3-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Mai Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hoà;

2. Ông Đoàn Tấn Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Bảo Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 524/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1990; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1984; CCCD: xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T trình bày:

Chị và anh T1 chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Từ khi đăng ký kết hôn chung sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hằng ngày, vợ chồng chị thường xuyên cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc, anh T1 gây áp lực về tinh thần cho chị. Do mâu thuẫn nên chị và anh T1 đã sống ly thân khoảng 5 tháng. Nay không còn tình cảm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Chị và anh T1 có 01 người con chung tên Lê Thúy H, sinh ngày 22/8/2024. Hiện nay cháu H đang sống với chị nên chị yêu cầu được nuôi cháu, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18-12-2025, bị đơn anh T1 trình bày:

Anh thống nhất với chị T trình bày về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung. Anh và chị T qua một thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2023, năm 2024 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P. Do anh đi làm thường xuyên về khuya nên giữa anh và chị T có mâu thuẫn, chị T đã về nhà cha mẹ ruột đã 5 tháng, anh có kêu chị T về nhà nhưng chị T không về. Anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Kim T đối với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Giao con chung Lê Thúy H, sinh ngày 22/8/2024 cho chị T trực tiếp trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Đương sự chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Phạm Thị Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T1. Anh T1 cư trú tại ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh.

Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim T:

Chị Phạm Thị Kim T và anh Lê Văn T1 qua một thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Tây Ninh vào ngày 27 tháng 6 năm 2024. Hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị T trình bày, mâu thuẫn vợ chồng từ khi đăng ký kết hôn cho đến nay, anh chị chung sống không hoà hợp, luôn bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hằng ngày, anh chị thường xuyên cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc, anh T1 gây áp lực về tinh thần cho chị. Do mâu thuẫn nên chị và anh T1 đã sống ly thân khoảng 5 tháng. Anh T1 trình bày, do anh đi làm thường xuyên về khuya nên giữa anh và chị T có mâu thuẫn, chị T đã về nhà cha mẹ ruột đã 5 tháng, anh có kêu chị T về nhà nhưng chị T không về. Anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết yêu cầu ly hôn. Anh T1 cho rằng vẫn còn tình cảm và không đồng ý ly hôn, tuy nhiên anh T1 không đưa ra được biện pháp cụ thể nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn quan hệ vợ chồng; thực tế các bên đã ly thân, không còn đời sống chung, không còn sự tin tưởng, gắn bó với nhau.

Mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã kéo dài, không được khắc phục; đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế; mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau không đạt được. Trong khoảng thời gian ly thân không ai có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng, thể hiện ý chí hôn nhân của các bên đã rạn nứt nghiêm trọng.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Về con chung:

Chị T và anh T1 có 01 con chung Lê Thúy H, sinh ngày 22/8/2024, hiện cháu H còn quá nhỏ và cháu đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ trước đến nay, việc giao cháu H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với độ tuổi, nhu cầu chăm sóc của cháu và điều kiện thực tế của các bên.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị Kim T chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Kim T đối với anh Lê Văn T1. Chị Phạm Thị Kim T được ly hôn đối với anh Lê Văn T1.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Thúy H, sinh ngày 22/8/2024, cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Kim T chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0008092 ngày 17-10-2025 của Thi hành án dân sự, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Chị T được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ