- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Mỹ T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2026/HNGĐ-ST Ngày: 08/6/2026 Về việc “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đào Thị Lương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Miện
Ông Trần Ngọc Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 475/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Nguyễn Mỹ T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn R, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1992; địa chỉ: 2 P, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà T có mặt, ông S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Mỹ T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông S kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi kết hôn, bà T và ông ZTK080626.TL.QDBA.1766 S sinh sống cùng gia đình chồng tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sinh con được khoảng 4 - 5 tháng thì bà T cùng con trai trở về sinh sống tại Đ (nhà mẹ đẻ đến nay). Nguyên nhân sống ly thân do bà T lỡ mang thai nên cả hai mới đến với nhau và kết hôn, từ thời điểm đó đến nay bà T một mình nuôi con, vợ chồng không còn liên lạc với nhau từ 10 năm nay, ông S cũng không thăm nom, chăm sóc con chung. Đến nay, bà T và ông S không còn tình cảm, hôn nhân không thể hàn gắn nên đề nghị Toà án cho ông, bà được ly hôn.
- Về con chung: Bà T và ông S có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015. Khi ly hôn, bà Tiên đề N giao con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015 cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi thành niên. Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà T và ông S không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T và ông S không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc tổ chức phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng đều vắng mặt không có lý do; ông S cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình để gửi cho Tòa án.
Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tiếp cận chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Thanh S vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà Võ Nguyễn Mỹ T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh S. Về con chung, bà T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015. Khi ly hôn, bà Tiên đề N giao con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1 cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi thành niên. Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà T xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Lâm Đồng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ZTK080626.TL.QDBA.1766 yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Nguyễn Mỹ T, cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015 cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi thành niên. Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nên không đề nghị Toà án xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà T và ông S kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông S, nên xác định quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Dân sự năm 2015; bị đơn cư trú tại phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông S kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố Đ (nay là phường X - Đ), tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi kết hôn, bà T và ông S sinh sống tại thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sinh con được khoảng 4 - 5 tháng thì bà T cùng con trai trở về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại Đ cho đến nay. Thời điểm đó, bà T lỡ mang thai nên cả hai mới đến với nhau và kết hôn, từ đó đến nay bà T một mình nuôi con, vợ chồng không còn liên lạc với nhau từ 10 năm nay, ông S cũng không thăm nom, chăm sóc con chung. Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, đến hiện tại, bà T và ông S không còn tình cảm, hôn nhân không thể hàn gắn nên đề nghị Toà án cho ông, bà được ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng bà T và ông S đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và ZTK080626.TL.QDBA.1766 gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T, xử cho bà T và ông S được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
- Về con chung: Bà T và ông S có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015. Khi ly hôn, bà Tiên đề N giao con chung là cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015 cho bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi thành niên.
Xét thấy, con chung cháu Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015, hiện đang ở cùng bà T, con đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần giao cháu Nguyễn Hữu Hồng S1 cho bà T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi con thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nên không đề nghị Toà án xem xét.
- Về tài sản chung: Bà T xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Võ Nguyễn Mỹ T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Mỹ T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Nguyễn Mỹ T và ông Nguyễn Thanh S được ly hôn. ZTK080626.TL.QDBA.1766
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hữu Hồng S1, sinh ngày 19/11/2015 cho bà Võ Nguyễn Mỹ T có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nên Toà án không xem xét.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Bà Võ Nguyễn Mỹ T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011451 ngày 22/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Lâm Đồng, bà T đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản sao bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Khu vực 1 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS Khu vực 1 – Lâm Đồng;
- UBND phường Xuân Hương - Đà Lạt;
(đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu: Bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án.
Đào Thị Lương ZTK080626.TL.QDBA.1766 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Thị Lương ZTK080626.TL.QDBA.1766
| Nơi nhận: - - - ZTK080626.TL.QDBA.1766 | THẨM PHÁN Đào Thị Lương |