vanban.org

Bản án 65/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n ố Bị cáo Lê Xuân T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ".

Về hình phạt Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự. X phạt bị cáo Lê Xuân T 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ th m. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo. Giao b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T - Vi phạm qu định về TGGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuy n ố Bị cáo Lê Xuân T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS-ST
Ngày: 13-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.

Các H i thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Vũ Thị Dinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.

- Đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ s T a án nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên, t sơ th m công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo Quy t định đưa vụ án ra t số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quy t định hoãn phiên t a số 12/2025/HSST-QĐ ngày 10/11/2025 đối v i:

* Bị cáo LÊ XUÂN T, sinh ngày 02/01/19xx; Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; D n tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cư c công d n: 034082016173; Con ông Lê Xuân T và bà Nguyễn Thị T (đều đã ch t); Bị cáo có bố được Nhà nư c tặng giấy khen hạng ba vì có công lao động trong kháng chi n chống Mỹ cứu nư c và được tặng Hu n chương chi n sỹ vẻ vang hạng nhì và hạng ba; Có vợ là H Thị Q sinh năm 19 và 02 con, con l n sinh năm 2007 con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đ n nay; Có mặt tại phiên toà.

* Bị h i:

* Ông Ngô Văn H sinh năm 19 ; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ tỉnh Đông Hưng (có đơn đề nghị t vắng mặt).

* Ông Lê Văn H sinh năm 1970 (đã ch t)

Người đại diện hợp pháp của ông Lê Văn H:

- Bà Nguyễn Thị M sinh năm 19 (vợ ông H)

- Anh Lê Đức M sinh năm 20xx (con ông H)

- Chị Lê Thị Thuỳ T sinh năm 20xx (con ông H)

Đều trú tại: Thôn L, xã Q huyện K tỉnh Thái Bình (nay là thôn L, xã K tỉnh Hưng Yên).

Người đại diện theo ủy quyền của bà M và chị T là anh Lê Đức M (có đơn đề nghị t vắng mặt).

* Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Thôn S, xã Đ tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo c c t l u c tron hồ s v d n n tạ ph n t nộ dun v n

c t m t t nh s u

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/5/2025 Lê Xu n T (là người có giấy ph p lái e hạng C) điều khiển e ô tô biển số 17C- 200.81 đi từ nhà ra đường liên ã rồi ra Quốc lộ 39 để đi tỉnh Ninh Bình. Khi đi đ n đoạn đường gần ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 39 v i đường TL 396 (đường b giao nhau cùng mức với đường b ), T điều khiển e ô tô v i tốc độ 40- 50 km/h. Đ y là khu vực ngã tư có biển cảnh báo 207 (Giao nhau với đường không ưu tiên); biển cảnh báo 209 (Giao nhau có tín hiệu đèn) và có vạch sơn dành cho người đi bộ. Lúc này trời không mưa, tầm nhìn không bị hạn ch , mật độ người và phương tiện tham gia giao thông thưa th t, đèn giao thông theo hư ng T đi đang trạng thái màu đỏ. T điều khiển e ô tô đi sát vạch sơn ph n chia hai chiều đường v i tốc độ khoảng 40- 50 km/h; phía trư c cùng chiều T đi có 01 e ô tô tải đang đi làn đường sát tim đường; khi c n cách ngã tư khoảng 07 đ n 10 m t thì e ô tô tải bật i nhan rẽ phải T ti p tục điều khiển e ô tô đi về phía trư c lúc này đèn giao thông ngã tư đang đèn đỏ theo chiều T đi T không quan sát phía trư c mà chỉ tập trung nhìn đèn giao thông. Tại thời điểm này ông Ngô Văn H điều khiển e mô tô biển số 52 N5-4125 ch phía sau là ông Lê Văn H đang dừng e sát tim đường chờ đèn đỏ khu vực ngã tư làn đường hư ng ã Đông T n đi ngã tư Gia Lễ. Lúc này đèn giao thông chuyển sang màu xanh, T ti p tục điều khiển e đi thẳng. Do không chú ý quan sát không làm chủ tốc độ nên phần đầu bên trái e ô tô do T điều khiển đã đ m vào người ông H và đai ách yên bô e mô tô làm e mô tô, ông H và ông H đổ ngã ra đường. Hậu quả ông H bị đa chấn thương vùng đầu tay phải, ch n phải gối phải, vai; vỡ ương g má phải; gãy ương sườn từ số 04 đ n số 08 bên phải; tụ máu vùng ngực bên phải cách hõm nách vùng mạn sườn phải; vỡ ương sọ vùng trán trái; ông H ch t tại hiện trường do chấn thương sọ não và đa chấn thương; ông Ngô Văn H bị tụ máu nhu mô não thùy trán hai bên; máu tụ dư i màng cứng thái dương và trán trái v i tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 13%; e mô tô biển số 52 N5- 4125 hư hỏng nhẹ.

K t luận giám định t thi số 531 ngày 12/6/2025 của Ph ng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) đã k t luận: “Nạn nh n Lê Văn H ch t do chấn thương sọ não và đa chấn thương”.

K t luận giám định số 56 ngày 20/8/2025 của Trung t m pháp y và giám định y khoa S y t Hưng Yên k t luận: “Ông Ngô Văn H sinh năm 19xx trú tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Hưng Yên bị tụ máu nhu mô não thùy trán hai bên đã điều trị không c n hình ảnh tổn thương trên ch n đoán hình ảnh; máu tụ dư i màng cứng thái dương và trán trái đã điều trị không c n hình ảnh tổn thương trên ch n đoán hình ảnh; 01 v t bi n đổi rối loạn sắc tố da vùng mạn sườn phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Ngô Văn H tại thời điểm giám định là 13%. Cơ ch hình thành thương tích là do va đập và chà sát v i vật cứng hoặc nền cứng g y nên”;

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý ki n khi u nại gì về k t luận giám định nêu trên.

Cáo trạng số 03/CT-VKSTT ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a bị cáo thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố. Bị cáo không có khi u nại gì về hành vi và quy t định tố tụng của người ti n hành tố tụng và cơ quan ti n hành tố tụng.

* Đại diện Viện kiểm sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quy t định truy tố đối v i bị cáo và đề nghị Hội đồng t :

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự. X phạt bị cáo Lê Xuân T từ 01 năm 06 tháng đ n 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 03 năm đ n 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ th m 13/11/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

- Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 585 586, 590, 591 Bộ luật d n sự, ghi nhận việc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Ngô Văn H số tiền 10.000.000 đồng và gia đình ông Lê Văn H số tiền 250.000.000 đồng (Bị cáo đã bồi thường ong). Ông H và đại diện theo pháp luật của ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

- Về vấn đề khác: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 giấy ph p hạng C số 340180004235 mang tên Lê Xu n T.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật bị cáo rất n hận đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n c sở nộ dun v n căn cứ v o c c t l u tron hồ s v n ã

c tr nh t n tạ ph n t Hộ ồn xét xử nhận ịnh nh s u:

Về quy t định tố tụng hành vi tố tụng: Hành vi quy t định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình (Nay là Công an tỉnh Hưng Yên) Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại người đại diện hợp của bị hại không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng; do đó, các hành vi và quy t định tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Xuân T: Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 23/5/2025 tại khu vực ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 39 v i đường TL396 (đường b giao nhau cùng mức với đường b ) thuộc địa phận thôn T y Thượng Liệt ã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên, bị cáo điều khiển e ô tô biển số 17C- 200.81 hư ng đi ã Đông Quan tỉnh Hưng Yên đi tỉnh Ninh Bình; do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên phần đầu bên trái của e ô tô do bị cáo điều khiển đã đ m va chạm v i người ông H; tay xách yên, bô xe mô tô 52N5- 4125 do ông Ngô Văn H điều khiển ch sau là ông Lê Văn H, làm xe mô tô và ông H cùng ông H đổ ngã ra đường dẫn đ n ông H bị chấn thương sọ não và đa chấn thương ch t tại hiện trường do; ông H bị thương tích 13%; xe mô tô biển số 52 N5- 4125 hư hỏng nhẹ.

Lời khai của bị cáo tại phiên t a phù hợp v i lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp v i lời khai của người làm chứng. Ngoài ra c n được chứng minh bằng các tài liệu: Biên bản khám nghiệm phương tiện; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Biên bản em t mũ bảo hiểm và quần áo; Bản ảnh phương tiện; Biên bản khám nghiệm t thi; Bản ảnh khám nghiệm t thi; Bản k t luận giám định t thi số 531 ngày 12/6/2025 của Ph ng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Nay là Công an tỉnh Hưng Yên); Bản khám ngoại khoa; K t luận giảm định số 56 ngày 20/8/2025 của Trung t m pháp y và giám định y khoa S y t Hưng Yên; Bản ảnh giám định cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng t có đủ cơ s để k t luận: Hành vi của Lê Xu n T điều khiển e ô tô đi vào khu vực ngã tư không chú ý quan sát; không giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn dẫn đ n va chạm v i e mô tô của ông H điều khiển làm ông Lê Văn H ch t tại hiện trường và ông Ngô Văn H thương tích 13%, đã vi phạm điểm d khoản 3 Điều 12 (quy định về chấp hành quy định về tốc đ và khoảng cách giữa các xe) của Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ, hành vi này đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 7 - Hưng Yên truy tố là đúng pháp luật.

Tội danh và hình phạt được quy định như sau:

“Đ ều 12. Chấp h nh quy ịnh về tốc ộ v khoản c ch ữ c c xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy định về tốc đ , khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường hoặc phần đường.

2...

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường b phải quan sát, giảm tốc đ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:

a) …

…

d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường b giao nhau cùng mức với đường sắt; đường hẹp, đường vòng, đường quanh co, đường đèo, dốc;

…”

Đ ều 260. Tộ v phạm quy ịnh về th m

o thôn

ờn ộ

1. Người nào tham gia giao thông đường b mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường b gây thiệt hại cho người khác thu c m t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

5. Người phạm t i còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo đã m phạm đ n sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ g y ra tai nạn giao thông làm thiệt hại đ n sức khỏe tính mạng của bị hại. Do đó việc đưa ra t đối v i bị cáo là đúng quy định của pháp luật, nhằm răn đe và ph ng ngừa tội phạm chung.

X t các tình ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6.1] Về tình ti t tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình ti t giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà bị cáo thành kh n khai báo ăn năn hối cải tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình ông H và ông H bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo bị cáo có bố đẻ được Nhà nư c tặng giấy khen hạng ba vì có công trong cuộc kháng chi n chống Mỹ cứu nư c và được tặng Hu n chương chi n sỹ vẻ vang hạng nhì và hạng ba nên bị cáo được áp dụng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

X t thấy bị cáo là người có nh n th n tốt được áp dụng nhiều tình ti t giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần thi t phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống ã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị được hư ng án treo và ấn định thời gian th thách giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cùng v i sự phối hợp của gia đình để tạo điều kiện cho bị cáo s a chữa sai lầm vừa thể hiện được tính nghiêm minh cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật chính sách nh n đạo của Đảng và Nhà nư c. Bị cáo không hành nghề lái e nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự: Bị cáo và bị hại là ông Ngô Văn H đã tự thỏa thuận: Bị cáo bồi thường cho ông H 10.000.000 đồng ông H đã nhận đủ tiền. Bị cáo và đại diện gia đình ông Lê Văn H đã tự thỏa thuận: Bị cáo bồi thường cho gia đình ông H 250.000.000 đồng gia đình ông H đã nhận đủ tiền. Nay ông H và gia đình ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên cần ghi nhận.

Về lý vật chứng:

- Đối v i 01 e ô tô biển số 17C- 200.81: Xác định chủ s hữu là bị cáo Lê Xuân T. Ngày 25/6/2025; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã trả cho bị cáo T.

- Đối v i 01 e mô tô biển số 52 N5- 4125 quản lý của bị hại Ngô Văn H: Qua điều tra ác định chủ s hữu đầu tiên là ông Bùi Văn Giao trú tại ấp 5 ã Phong Phú huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an tỉnh Hưng Yên đã ra Quy t định ủy thác điều tra ong chưa có k t quả nên tách ra để lý sau.

Về vấn đề khác: Đối v i 01 giấy ph p hạng C số 340180004235 mang tên Lê Xuân T hiện đang được quản lý trong phong bì niêm phong kèm theo trong hồ sơ vụ án cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ th m theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuy n ố Bị cáo Lê Xuân T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ".

2. Về hình phạt Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự. X phạt bị cáo Lê Xuân T 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ th m. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

Giao bị cáo Lê Xuân T cho Uỷ ban nhân dân xã Đông Thuỵ Anh, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian th thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian th thách, người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định bu c người được hư ng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo. Trường hợp người được hư ng án treo thay đ i nơi cư trú thì th c hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình s .

3. Về tr ch nh m dân sự Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 590, 591 Bộ luật D n sự, ghi nhận việc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Ngô Văn H số tiền 10.000.000 đồng và gia đình ông Lê Văn H số tiền 250.000.000 đồng (Bị cáo đã bồi thường ong).

4. Về vấn ề kh c: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 giấy ph p hạng C số 340180004235 mang tên Lê Xu n T.

5. Về n phí Áp dụng Điều 135 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s dụng án phí và lệ phí T a án.

Bị cáo Lê Xu n T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ th m.

6. Về quyền kh n c o Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ th m 13/11/2025. Bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ