vanban.org

Bản án 65/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với ông Trần Văn T:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Trần Văn T. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Trần Văn T có 03 con chung là Trần Thị Trúc L, sinh ngày 24/7/1990, Trần Thanh B, sinh ngày 30/8/1992, Trần Văn Y, sinh ngày 11/12/2005. Vì hiện nay cả 03 cháu đều đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc L - Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với ông Trần Văn T:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 12 - 2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh

Bà Nguyễn Thị Di

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 88/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1970. HKTT: 34Q1 đường M, tổ C, ấp B, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ hiện nay: Đường M, tổ C, ấp B, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1970. HKTT và địa chỉ hiện nay: 34Q1 đường M, tổ C, ấp B, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Đầu năm 1989, tôi và ông Trần Văn T quen biết nhau. Sau một thời gian tìm hiểu, hai bên phát sinh tình cảm và muốn gắn bó lâu dài với nhau nên đến cuối năm 1989 chúng tôi làm mấy mâm cơm mời họ hàng rồi chuyển về chung sống với nhau. Ban đầu chúng tôi chung sống ở nhà ba mẹ ông T ở huyện N, tỉnh Cà Mau. Sau đó tầm khoảng 01 tháng thì chúng tôi chuyển về Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) sinh sống cho đến nay. Chúng tôi không đăng ký kết hôn nhưng chung sống thực tế với nhau từ cuối năm 1989 cho đến nay.

Thời gian đầu chúng tôi chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng cách đây khoảng 10 năm thì ông T bắt đầu có những mối quan hệ ngoài luồng lén lút với người phụ nữ khác. Khi bị tôi phát hiện thì ông T đã năn nỉ tôi cho cơ hội để sửa chữa, vì thương các con nên tôi đồng ý bỏ qua. Tuy nhiên sau đó ông T bắt đầu nhậu nhẹt, bỏ bê gia đình, vẫn tiếp tục qua lại với người phụ nữ khác và không còn quan tâm tới gia đình nữa. Hiện nay nhận thấy tình cảm giữa chúng tôi không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, khi tôi nói đến chuyện ly hôn thì ông T bảo tôi cứ làm đơn, do ông T ngại đến cơ quan nhà nước nên sẽ không lên Tòa, tuy nhiên ông T hoàn toàn đồng ý chuyện ly hôn với tôi. Chúng tôi cũng đã sống ly thân được 6-7 tháng nay và hiện nay cả hai không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau đã hết, chúng tôi cũng chưa từng đăng ký kết hôn nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi với ông Trần Văn T.

+ Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là Trần Thị Trúc L, sinh ngày 24/7/1990, Trần Thanh B, sinh ngày 30/8/1992, Trần Văn Y, sinh ngày 11/12/2005. Vì hiện nay cả 03 cháu đều đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Chúng tôi sẽ tự thỏa thuận nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Tôi xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và không ai cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Trần Văn T nên xác định đây là “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Trần Văn T sinh sống tại địa chỉ số 34Q1 đường M, tổ C, ấp B, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Văn T, đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L, Hội đồng xét xử thấy:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Trần Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, bà L xác nhận hai bên xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do ông T có quan hệ với người phụ nữ khác, vì bà L và ông T chưa đăng ký kết hôn nên bà L không có gì để ràng buộc trách nhiệm với ông T. Hiện nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau đã hết nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L với ông T. Quá trình giải quyết vụ án, ông T biết rõ việc bà L khởi kiện tại Tòa án nhưng không đồng ý nhận giấy tờ, không lên Toà án làm việc và cũng không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Nhận thấy bà L và ông T có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng lại không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều này là vi phạm quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông T không được pháp luật thừa nhận nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L với ông T theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung:

Bà L xác nhận trong thời gian chung sống thì bà L và ông T có 03 người con chung là Trần Thị Trúc L, sinh ngày 24/7/1990, Trần Thanh B, sinh ngày 30/8/1992, Trần Văn Y, sinh ngày 11/12/2005. Vì hiện nay cả 03 cháu đều đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung:

Do bà L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung:

Bà L xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà L phải chịu án phí theo quy định. Ông T không phải chịu.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với ông Trần Văn T:

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Trần Văn T có 03 con chung là Trần Thị Trúc L, sinh ngày 24/7/1990, Trần Thanh B, sinh ngày 30/8/1992, Trần Văn Y, sinh ngày 11/12/2005. Vì hiện nay cả 03 cháu đều đã trưởng thành và có đủ khả năng lao động nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025832 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.

Ông Trần Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/12/2025) lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với ông Trần Văn T thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ