- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2024/HSST Ngày: 10 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Việt
2. Cầm Văn Tổ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Cầm Văn T, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1982 tại huyện MS, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản L, xã CL, huyện MS, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Cầm Văn H (đã chết) và bà Quàng Thị È (đã chết). Bị cáo có vợ là Quàng Thị K sinh năm 1982 trú tại bản L, xã CL, huyện MS, tỉnh Sơn La. Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005).
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 99/2005/HSST ngày 04/11/2005, Cầm Văn T bị TAND huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Quàng Thị K, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản L, xã CL, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt.
2. Anh Hà Văn Th, sinh năm 1978. Địa chỉ: Bản R, xã XN, huyện VH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Cầm Văn T điều khiển xe mô tô hiệu HONDA WAVE 100S, vỏ màu xanh đen, biển kiểm soát 26H6-9286 đi từ nhà tại bản Lù, xã CL, huyện MS, tỉnh Sơn La đến xã Hát Lót, huyện MS để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc bản 428, xã Hát Lót, huyện MS T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 04 gói Heroine được gói bằng giấy với giá 270.000 VNĐ. T cầm 04 gói Heroine trong bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc bản 428, xã Hát Lót thì bị Tổ công tác Công an huyện MS làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng gồm: 04 gói Heroine được gói bằng giấy, 01 điện thoại di động hiệu Mastel izi 112 màu đỏ đen kèm 01 sim điện thoại, 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE 100S màu xanh đen BKS 26H6-9286.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện MS phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Cầm Văn T. Kết quả: Khối lượng chất bột màu trắng trong 04 gói thu giữ của Cầm Văn T là 0,16 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M1 đến M4 trưng cầu giám định.
Kết luận giám định số 84/KLMT ngày 21/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 đến M4 đều là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là M1=0,04 gam; M2=0,04 gam; M3=0,04 gam; M4=0,04 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,16 gam; Loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,16 gam loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSMS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Cầm Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn T từ 14 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh giấy gói ma túy ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư do Công an huyện MS phát hành;
Trả lại cho Cầm Văn T 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 112, vỏ màu đỏ đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng;
Trả lại cho chị Quàng Thị Kiểu 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE 100S, vỏ màu xanh đen, BKS 26H6-9286, xe cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Văn T do bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí tại phiên tòa.
Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị trả lại chiếc xe mô tô bị cáo bị thu giữ để quản lý, sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện MS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện MS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Ngày 18/12/2023, tại bản 428, xã Hát Lót, huyện MS, tỉnh Sơn La, Tổ công tác Công an huyện MS, tỉnh Sơn La đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 08 giờ 00 phút đối với bị cáo Cầm Văn T thu giữ 0,16 gam Heroine T khai tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/12/2023, biên bản niêm phong vật chứng và biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập ngày 18/12/2023, Kết luận số 84/KLMT ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; các lời khai của bị cáo trong hồ sơ, người chứng kiến... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn, không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điểm 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Xét tính chất vụ án:
Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường nhưng bị cáo T vẫn mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị hình phạt và xử lý vật chứng là đảm bảo đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án số 99/2005/HSST ngày 04/11/2005, Cầm Văn T bị TAND huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, xét thấy: Bị cáo phạm tội về ma túy cần T phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, từ đó để răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án: Bị cáo Cầm Văn T khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường dân sinh thuộc bản 428, xã Hát Lót, huyện MS. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến nên. Đối với số tiền 270.000VNĐ bị cáo dùng để mua ma túy, bị cáo khai là tiền do lao động có. Ngoài lời khai của bị cáo không căn cứ chứng minh có liên quan đến người khác. Vợ bị cáo (chị Quàng Thị Kiểu) không có yêu cầu gì đối với số tiền này. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, mở rộng vụ án. Buộc bị cáo Cầm Văn T phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Heroine thu giữ là 0,16 gam.
Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh giấy gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định trong 01 phong bì thư do Công an huyện MS phát hành. Xét là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mastel izi 112, màu đỏ đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng là tài sản của Cầm Văn T không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE 100S, màu xanh đen. Biển kiểm soát 26H6-9286, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản chung vợ chồng bị cáo mua lại của Hà Văn Thanh từ năm 2019. Việc mua bán không có làm giấy tờ, bị cáo chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ với chiếc xe nhưng chủ xe Hà Văn Thanh xác nhận đã bán cho vợ chồng bị cáo và không còn liên quan gì đến chiếc xe. Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng lưu kho. Khi bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, vợ bị cáo - chị Quàng Thị Kiểu không biết và không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xe là phương tiện đi lại duy nhất của cả gia đình, chị Kiểu có đề nghị trả lại chiếc xe để quản lý sử dụng là có căn cứ cần chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Văn T do bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 12 năm 2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh giấy gói ma túy ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì thư do Công an huyện MS phát hành;
Trả lại cho bị cáo Cầm Văn T 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 112, màu đỏ đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng;
Trả lại cho chị Quàng Thị Kiểu 01 xe mô tô hiệu HONDA WAVE 100S, màu xanh đen, BKS 26H6-9286, xe cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2024 giữa Công an huyện MS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện MS).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Văn T.
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quàng Thị Kiểu có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Văn Thanh vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện MS, tỉnh Sơn La; - THADS huyện MS, tỉnh Sơn La; - Công an huyện MS, tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La ; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Cầm Ngọc Thương |