vanban.org

Bản án 65/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C đối với bị đơn anh Hoàng Trọng D về ly hôn.

Xử cho chị Nguyễn Thị Kim C ly hôn anh Hoàng Trọng D. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim C - Hoàng Trọng D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C đối với bị đơn anh Hoàng Trọng D về ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 18-6-2024.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.

2. Ông Phan Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 780/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1987.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Địa chỉ: Tổ A, Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Hoàng Trọng D, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ A, Khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị C, anh D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện (không ghi ngày, tháng, năm) nhận ngày 02/10/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Trọng D đã tìm hiểu vào năm 2010 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống không hạnh phúc. Chồng chị hay đánh chị, anh chị hay cãi nhau do bất đồng quan điểm. Năm 2011, chị và anh D không tiếp tục chung sống với nhau nữa và ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn anh D.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Bị đơn anh Hoàng Trọng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có ý kiến trình bày.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn được đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C đối với bị đơn anh Hoàng Trọng D, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh D; Về con chung: Không có; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét; Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Hoàng Trọng D. Do đó, Tòa án thụ lý vụ án dân sự với quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Hoàng Trọng D, sinh năm 1982, đăng ký thường trú và sinh sống tại tổ A, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn anh Hoàng Trọng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị C, anh D.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Hoàng Trọng D tự tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01, ngày 23/3/2010 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn chị C cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc, anh D thường hay đánh chị, vợ chồng thường cãi nhau do bất đồng quan điểm. Đối với bị đơn anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không cung cấp ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị C.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị C và anh D đến Tòa án để hòa giải cho anh chị đoàn tụ nhưng anh D không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Qua đó, cho thấy anh D đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng và không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Xét thấy, hôn nhân giữa chị C và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị C đối với anh D, xử cho chị C ly hôn anh D.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C trình bày không có tài sản chung và nợ chung. Tòa án đã triệu tập cho anh D đến Tòa án giải quyết nhưng anh D vắng mặt không có ý kiến trình bày nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Hoàng Trọng D nên chị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C đối với bị đơn anh Hoàng Trọng D về ly hôn.

1. Xử cho chị Nguyễn Thị Kim C ly hôn anh Hoàng Trọng D.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002323 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Chị C đã nộp đủ).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim C, anh Hoàng Trọng D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ