- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Đức Đạt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lữ Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65 /2023/HSST Ngày: 22-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Phan Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Sỹ Vinh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22/3/2023 Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2023/TLST - HS ngày 02/3/2023 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/ 2023/ QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Lữ Đức Đ; sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Khối 8, phường T, thành phố Vinh, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Lữ Đức Nuôi và bà: Phùng Thị Đào; Vợ : Bùi Thị Mai Hương, con: có hai con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017 ; Tiền án : Ngày 23/7/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 9 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý . Chấp hành ra trại ngày 06/01/2020 ; Ngày 27/9/2021 bị Toà án nhân thành phố Vinh xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/9/2022 ; tiền sự : Không ; Nhân thân: Năm 2009, bị Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm lao động xã hội xã Hưng Đông, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 19/3/2010; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12/2022 Lữ Đức Đ đi uống bia tại quán bia ở ngã tư đại học Vinh thì gặp một người đàn ông tên Cảnh (là bạn trước đây cùng cải tạo với Đ trong trại giam Xuân Hà, Hà Tĩnh). Sau khi gặp nhau, Đ nhờ Cảnh mua cho Đ 07 (bảy) viên ma tuý thuốc lắc để về sử dụng, thì Cảnh đồng ý và nói với Đ giá 2.000.000 đồng. Đ đưa cho Cảnh 2.000.000 đồng, Cảnh cầm tiền đi lấy ma tuý còn Đ ngồi chờ. Một lúc sau Cảnh quay lại đưa cho Đ 01 gói potylen bên trong có 7 viên ma tuý thuốc lắc màu xanh. Đ nhận gói ma tuý rồi đi về nhà. Tối cùng ngày, Đ mở gói ma tuý lấy ra 02 viên để sử dụng, số còn lại Đ cất dấu vào túi áo ấm treo ở nhà. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 11/01/2023, Đ mặc áo ấm trong túi có số ma tuý nói trên đi đến nhà người em của Đ tên là Nam tại khu vực ngõ 23, đường Phong Định Cảng, khối 9, phường T, thành phố Vinh để rủ Nam đi uống rượu, sau khi uống rượu xong thì sẽ rủ Nam đi sử dụng ma tuý. Khi Đ đi đến cạnh số nhà 15/2R ngõ 23, đường Phong Định Cảng thì bị tổ công tác công an phường Đội Cung yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ trong tay phải của Đ đang cầm 01 gói potylen màu trắng, bên trong có chứa 5 viên nén màu xanh.
Tại kết luận giám định số 106/KL– KTHS (Đ2-MT) ngày 17/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu xanh, hình dạng không xác định thu giữ của Lữ Đức Đ là ma túy MDMA, có khối lượng 2,02 gam.
Cáo trạng số 79/CT-VKS-TPV ngày 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Lữ Đức Đ về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟ theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :
Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt Lữ Đức Đ từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy MDMA hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Lữ Đức Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 11/01/2023 tại khu vực số nhà 15/2R ngõ 23 đường Phong Định Cảng, khối 9, phường T, thành phố Vinh; Lữ Đức Đ đã có hành vi cất dấu ma túy MDMA có khối lượng 2,02 gam để sử dụng. Bị cáo đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nhiều lần và chưa được xoá án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân thành phố Vinh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước; Gây mất trật tự trị an xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần nhưng không chịu lấy đó làm bài học để sửa chữa, làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn; gia đình bị cáo có mẹ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Với những phân tích như trên nghĩ cần xử phạt bị cáo cao mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, lại là người nghiện, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với số ma túy MDMA thu giữ ở bị cáo được xác định là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về các vấn đề khác : Đối với người đàn ông tên Cảnh đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết rõ lai lịch địa chỉ của người này nên không có cơ sở để xem xét.
.Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lữ Đức Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý.”
2. Về hình phạt: Căn cứ Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt:
Bị cáo Lữ Đức Đ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/01/2023). Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Lữ Đức Đ có chứa ma túy MDMA hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2022/103 ngày 10/3/2023.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Lữ Đức Đ phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
5. Về kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| N¬i nhËn - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - VKSND TP Vinh - Chi cục THA DS TP Vinh - Công an TP Vinh - Bị cáo - Lưu hồ sơ | T/M Héi §ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Phạm Thị Minh Hiền |