vanban.org

Bản án 65/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023) Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình K, tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HSST
Ngày 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu

Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Phúc và bà Bùi Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023, đối với:

Bị cáo Nguyễn Đình K, sinh ngày 21/4/1987; sinh trú quán: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị Ngọc L, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 50 ngày 28/9/019 Công an thành phố Vĩnh Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ, về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, K chưa nộp phạt, tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu thi hành. Tại bản án hình sự số 73/2015/HSST ngày 31/3/2015, Tòa án nhân dân quận G, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt K 3 năm 6 tháng tù về tội: “Cướp tài sản”, ngày 12/11/2019 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07h00’ ngày 29/5/2023, Nguyễn Đình K đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên K mượn điện thoại của một người qua đường, gọi điện thoại cho Văn Như T là bạn nghiện để nhờ mua giúp K 500.000đ tiền ma túy loại heroine, T đồng ý và bảo K đến khu vực chợ R thuộc xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, T sẽ đưa K đi mua heroine. K đi nhờ xe của người qua đường từ thôn T, xã Đ đến điểm hẹn để gặp T. Đến nơi, T đưa K đi bộ vào khu vực chợ R, xã L gặp 01 nam giới không rõ lai lịch. K hỏi mua của người này 500.000đồng tiền ma túy, người này đồng ý. K đưa cho người này 500.000đồng, người này nhận tiền rồi đưa cho K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói ma túy loại heroine. Sau khi mua bán ma túy, T và nam thanh niên bán ma túy bỏ đi, còn K đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi K đang đi bộ tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn N, xã L thì tổ công tác Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của K 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ bằng nilon, bên trong bọc giấy bạc, trong cùng dựng chất bột cục màu trắng niêm phong ký hiệu A1, K khai nhận là ma túy loại heroine K mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt; tại túi quần bên trái phía trước của K 01 bật lửa gas đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 1521/KLGĐ ngày 01/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1705g (không phảy một bảy không năm gam, không kể bao bì), loại heroine.

Tại Cáo trạng số: 68/CT-VKSYL ngày 13 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Nguyễn Đình K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Nguyễn Đình K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: Nguyễn Đình K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29/5/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng và tính án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng, thể hiện như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/5/2023, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn N, xã L, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang Nguyễn Đình K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói ma túy theo kết luận giám định là heroine có khối lượng 0,1705g, 01 bật lửa gas đã qua sử dụng.

. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: “1. Người nào…, tàng trữ trái phép… chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c. Heroine….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Về nhân thân, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị Tòa án xét xử 3 năm 6 tháng tù về tội: “Cướp tài sản”, nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Bố bị cáo (ông Nguyễn Đình N) là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, được cấp giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và trợ cấp hàng tháng. Bản thân bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với đối tượng Văn Như T, sinh năm 1981; trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y đã đưa K đi mua ma túy; cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập làm việc nhưng T không có mặt tại địa phương, không rõ hiện nay T đang ở đâu, làm gì nên cơ quan điều tra tách ra và tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho K ngày 29/5/2023, do K không biết tên, tuổi, địa chỉ người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

. Về xử lý vật chứng: 0,1265g heroine do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói; 01 bật lửa gas đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Đình K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29/5/2023.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1265g heroine do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói; 01 bật lửa gas đã qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023)

4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đình K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ