- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Duy Thành - TTPTCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HSST Ngày: 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Hùng và ông Nguyễn Văn Duệ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân TP. Hà Nội và điểm cầu thành phần Trại tạm gian số 1 – Công an TP. Hà Nội, Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/HSST ngày 21/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 08/8/2023, đối với bị cáo: Đỗ Duy T - sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn 6, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đăng S và bà Trịnh Thị S; c v V Thị L – sinh năm 1991, chưa c con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2019 bị TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2020. Bị bắt quả tang, bị tạm giam giữ từ ngày 20/5/2023 đến nay. C mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Duy Đ - sinh năm 1999 (vắng mặt)
Trú tại: thôn 6, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 20/5/2023, Công an xã Hồng Quang đang làm nhiệm vụ tại thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội thì phát hiện Đỗ Duy T – sinh năm 1988 ở thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đang điều khiển xe mô tô SYM biển kiểm soát (Viết tắt: BKS) 29S1-616.50 c biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Tại chỗ, T tự nghuyện giao nộp 01 g i giấy màu trắng kích thước (0,1x1,5) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, T khai nhận đ là Heroin vừa mua đư c của một người nam giới không quen biết ở thôn Hữu Vĩnh với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển giao cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: “- 01 gói giấy màu trắng kích thước (0,1x1,5) cm bên trong có chất bột màu trắng; - 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, BKS: 29S1-616.50”.
Bản kết luận giám định số 3306/KL- KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,244 gam”.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 21/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Đỗ Duy T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì thư chứa ma túy gửi lại sau giám định; trả lại anh Đ xe máy BKS: 29S1-61650. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người c quyền l i nghĩa vụ liên quan vắng mặt không c lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đư c tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) c đủ căn cứ xác định: Đỗ Duy T là đối tư ng nghiện ma túy, ngày 20/5/2023, tại thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hoà, TP. Hà Nội, Đỗ Duy T đã c hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói ma túy loại Heroin khối lư ng 0,244 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Hồng Quang kiểm tra bắt giữ. Theo qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của Đỗ Duy T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn là c căn cứ, đúng pháp luật.
3 Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Đáng lưu ý, về nhân thân năm 2019 bị cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, phải chấp hành án phạt tù, tuy đã đư c xoá án tích nhưng lần phạm tội này của bị cáo bị coi là c “nhân thân xấu”. Bị cáo c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi nhưng cố ý vi phạm; vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới c tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
4 Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không c tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. mặt khác, xét mục đích phạm tội của bị cáo chỉ nhằm thỏa mãn ham muốn của bản thân; bị cáo là đối tư ng nghiện ma túy, c v , chưa c con; không c tài sản riêng nên c thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời miễn hình phạt bổ sung để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
5 Về nguồn gốc số ma túy: T khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hoà; việc mua bán chỉ c hai người biết, T c ng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan điều tra không c căn cứ để làm rõ, xử lý.
6 Về xử lý vật chứng: Phong bì thư chứa ma túy đư c niêm phong gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Vật chứng còn lại là chiếc xe mô tô BKS: 29S1-616.50 đăng ký chính chủ là anh Ngô Khắc P ở Thuỵ Lôi, Đông Anh, Hà Nội; anh Phương đã bán lại xe này cho anh Đỗ Duy Đ là em trai bị cáo T . Ngày 20/5/2023 T hỏi mư n anh Đ xe này, anh Đ không biết mục đích mư n xe của T để đi mua ma tuý nên không c lỗi; xe này không thuộc vật chứng của vụ án khác nên cần trả lại anh Đạt xe này.
7 Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và đư c quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Đỗ Duy T 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/5/2023; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong chứa ma tuý gửi lại sau giám định. Trả lại anh Đỗ Duy Đ chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, màu trắng xanh, biển kiểm soát 29S1- 616.50 (Phong bì thư chứa ma tuý, xe máy có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 16/8/2023).
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đư c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người c quyền l i nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản sao bản án hoặc bản án đư c niêm yết, tống đạt h p lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình)./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP./. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |