- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIAG TỈNH BẮC GIAG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIAG, TỈNH BẮC GIAG
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bảng;
2. Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên toà: Lương Thị Thu TrAg – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc GiAg, tỉnh Bắc GiAg.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc GiAg, tỉnh Bắc GiAg tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc GiAg, tỉnh Bắc GiAg xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số: 52/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1974; tên gọi khác: Không có
Nơi cư trú: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc GiAg; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: 3/12; con ông: Nguyễn Văn L (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1930; có vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1975; có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ah Cao Thịnh A, sinh năm 2001 (đã chết)
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Cao Thịnh C, sinh năm 1974 (có mặt)
- Bà La Thị Tr, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn
* Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ah Cao Thịnh Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở hiện tại: Thôn Vân Cốc 2, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Ah Phạm Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt)
- Ah Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Cùng cư trú tại: Thôn C, xã X, huyện L, tỉnh Bắc GiAg.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 29/10/2022, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 98B1-864.03 đi trên đường thuộc khu dân cư thành Xương GiAg đến ngã ba giao với đường Nguyễn Chí T thuộc tổ Đông GiAg, phường Xương GiAg, thành phố Bắc GiAg. Đường Nguyễn Chí T là đường đôi, được phân chia bằng dải phân cách cứng. H quA sát thấy trên đường có ít phương tiện đi lại nên điều khiển xe mô tô rẽ trái vào đường Nguyễn Chí T, đi ngược chiều trên phần đường bên phải theo hướng từ đường Xương GiAg đi đường Lê Lợi để đi về phía đường Xương GiAg. H điều khiển xe mô tô đi sát dải phân cách. Cùng lúc đó, Ah Cao Thịnh A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WinnerX, biển kiểm soát 97G1-002.87 đi trên đường Xương GiAg hướng từ huyện L đi thành phố Bắc GiAg, rẽ trái vào đường Nguyễn Chí T. H thấy xe mô tô của Ah A đi đến thì đánh lái sAg phải nhưng không tránh được nên hai xe xảy ra va chạm với nhau. Sau khi va chạm, 2 xe mô tô bị đổ trên mặt đường. Ah A bị thương được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc GiAg cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đến ngày 02/11/2022 bị chết. Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn H và Ah Cao Thịnh A ngày 29/10/2023 đều là 0,000mg/L.
Kết quả xác minh tại Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc GiAg xác Đ Nguyễn Văn H và Ah Cao Thịnh A đã được cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy Đ.
*Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại chiều đường bên phải của đường Nguyễn Chí T, hướng từ đường Xương GiAg đi đường Lê Lợi. Đây là đoạn đường đôi được phân chia bằng dải phân cách cứng rộng 2m. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 10,5m.
Chọn cột biển báo số P102 trên đầu dải phân cách cứng trên đường Nguyễn Chí T làm mốc chuẩn, chọn mép phải đường tính theo hướng từ đường Xương GiAg đến đường Lê Lợi làm mép chuẩn.
Vị trí (1) là xe mô tô biển số 98B1-864.03 đổ nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe chếch hướng Tây Bắc, đuôi xe chếch hướng Tây Nam. Đo khoảng cách từ tâm đầu trục bánh trước và sau xe cách mép chuẩn lần lượt là 8,4m và 9m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh trước cách mốc chuẩn là 4,05m.
Vị trí (2) là vết nâu đỏ nghi máu trên mặt đường có kích thước (0,4x0,3)m, đo khoảng cách tâm vết cách mép chuẩn và tâm đầu trục bánh sau xe số 1 lần lượt là 9,5m và 1,3m.
Vị trí (3) là vết cày xước dạng đứt quãng trên mặt đường có kích thước (19,7x0,4)m, vết có chiều hướng từ Tây Bắc đến Đông Nam kéo dài đến vị trí để chân sau bên trái xe mô tô biển số 97G1-002.87, đo khoảng cách từ tâm đầu vết cách mép chuẩn và cách tâm đầu trục bánh sau xe số 1 lần lượt là 7,4m và 2,8m.
Vị trí (4) là vết màu nâu đỏ nghi máu trên mặt đường có kích thước (1x0,4)m. Đo khoảng cách từ tâm vết cách mép chuẩn và tâm đầu vết số 3 lần lượt là 6,3m và 9,1m.
Vị trí (5) là xe mô tô biển số 97G1-002.87 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe chếch hướng Đông Nam, đuôi xe chếch hướng Tây Bắc. Đo khoảng cách từ tâm đầu trục bánh trước, sau xe cách mép chuẩn lần lượt là 2,8m và 2,9m. Đo khoảng cách tâm đầu trục bánh sau xe cách tâm đầu trục bánh sau xe số 1 là 21,5m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường có thu giữ: 01 xe mô tô biển số 97G1-002.87; 01 xe mô tô biển số 98B1-864.03; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số H977787 và 01 đăng ký xe mô tô số 096516 của Nguyễn Văn H.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Cao Thịnh A
- Khám ngoài: Vùng trán phải, đỉnh, thái dương trái có vết mổ hình vòng cung đã khâu kích thước (31x0,1)cm. Vùng trán phải có vết chợt da kích thước (3x0,8)cm. Thái dương trái bầm tím kích thước (8x5)cm. Diện khuyết xương sọ dưới vết mổ kích thước (10x9)cm.
Mắt phải bầm tím kích thước (7x5)cm. Mắt trái bầm tím kích thước (8x4)cm. Trên đuôi cung lông mày trái có vết chợt da kích thước (0,5x0x5)cm. Cung lông mày trái có vết thương đã khâu kích thước (1,5x0,1)cm. Trước tai trái có vết chợt da kích thước (3x2,5)cm. Sau tai phải bầm tím kích thước (9x4,5)cm.
Mu bàn tay phải có đám chợt da bầm tím kích thước (6x5,5)cm. Mặt sau cổ tay trái có đám chợt da kích thước (5x1)cm. Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương nào khác.
Bên ngoài cơ thể có mảnh xương sọ kích thước (10x9)cm.
- Mổ tử thi: Cắt chỉ vết mổ vùng trán phải, đỉnh thái dương trái thấy tụ máu dưới da kích thước (15x9)cm. Màng cứng được khâu treo. Tụ máu dưới màng cứng kích thước (12x8)cm, dày 0,2cm. Tổ chức não phù.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS 98B1-864.03:
- Vỡ khuyết gương trái, gương chiếu hậu phải xoay tự nhiên theo hướng từ trước về sau.
- Ốp nhựa đầu xe bên trái có vết mài xước dập vỡ nhựa kích thước (3x2)cm.
- Ốp nhựa phía ngoài để chân sau bên trái có vết mài sát sạch bụi, dập vỡ rách nhựa tổng kích thước (11x15)cm.
- Cạnh ngoài ốp nhựa phía dưới để chân trước bên trái có vết mài sát nhựa sạch bụi, dập vỡ nhựa bám dính chất màu đen nghi cao su tổng kích thước (32x4)cm.
- Để chân sau bên trái cong chùn kim loại hướng từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, cạnh ngoài có nhiều vết mài xước bề mặt bám dính chất màu đen (nghi cao su) kích thước (12x9)cm.
- Ốp nhựa bầu lọc gió có vết mài xước, dập vỡ nhựa bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (9,5x9)cm.
- Cạnh ngoài cần khởi động của động cơ bên trái có vết mài sát bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (18x3,5)cm.
- Mặt ngoài ốp nhựa, ốp kim loại láp động cơ bên trái có vết mài sát rách nhựa, mài sát kim loại bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su tổng kích thước trên diện (24x12)cm.
- Đầu ngoài tay phAh phải có vết mài kim loại bám dính bụi đất kích thước (1,5x1,5)cm.
- Cạnh ngoài cần gương chiếu hậu phải có vết mài sát kim loại kích thước (1,5x0,5)cm.
- Đầu ngoài tay nắm phải có vết mài sát kim loại kích thước (1,5x0,5)cm.
- Cạnh ngoài để chân sau bên phải có vết mài kim loại kích thước (3,5x1)cm.
- Cạnh ngoài để chân trước bên phải có vết mài sát nhựa kích thước (23x1)cm.
- Ốp kim loại bảo vệ ống xả bên phải xe có vết mài sát kim loại kích thước (5x1,5)cm.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS 97G1-002.87:
- Ốp nhựa đầu xe bên trái có nhiều vết mài xước dập vỡ nhựa kích thước (22x5,5)cm.
- Đầu ngoài tay côn bên trái có vết mài sát kích thước (1x1)cm.
- Khuyết ốp nhựa đầu xe bên trái. Tại vị trí mặt trong có nhiều vết mài sát dập vỡ nhựa kích thước (34x14)cm.
- Cánh yếm trái bật chốt cố Đ, bề mặt có nhiều vết mài sát nhựa tổng kích thước (37x17)cm.
- Đầu ngoài chắn bùn trước bánh trước có vết mài sát nhựa kích thước (6x1,5)cm. Tại vị trí ốp càng giảm sóc trước bên trái có vết mài sát nhựa bề mặt bám dính chất dầu mỡ có kích thước (10x2)cm, điểm thấp nhất cách đất 32cm.
- Càng giảm sóc trước bên trái tại vị trí thấp nhất cách đất 26cm có vết mài sát mất sơn kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen kích thước (11x4)cm.
- Đầu trục ốc bánh trước bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (1x0,5)cm.
- Mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái tại vị trí gần nhất cách chân vA 25cm, theo chiều tiến của bánh xe có vết rách cao su, mài sát cao su sạch bụi kích thước (30,5x4)cm.
- Vành bánh trước bên trái tại vị trí gần nhất cách chân vA 20cm có vết cong chùn gãy khuyết kim loại chiều hướng từ ngoài vào trong, bề mặt có nhiều vết mài sát mất sơn kim loại kích thước (29x2,5)cm.
- Chống đổ bên trái cong chùn, hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, đầu ngoài có vết mài mòn kim loại kích thước (2,5x2,5)cm.
- Ốp nhựa sườn xe bên trái có vết mài sát nhựa trên diện (6,5x1,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 76cm.
- Tay sau xe bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (3,5x1)cm.
- Khuyết ốp nhựa đầu xe bên phải.
- Ốp nhựa phía trên khung xe có vết dập vỡ nhựa kích thước (12x1)cm.
- Ốp nhựa sườn xe bên phải có vết dập vỡ nhựa kích thước 5cm.
- Đầu ngoài xi nhA sau bên trái có vết mài sát nhựa kích thước (1,5x1)cm).
Cơ quA C sát điều tra Công A thành phố Bắc GiAg đã trưng cầu giám Đ nguyên nhân chết của Ah Cao Thịnh A; trưng cầu giám Đ cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn giao thông và yêu cầu Đ giá tài sản đối với chi phí thay thế, sửa chữa xe mô tô BKS 97G1-002.87.
Bản kết luận giám Đ pháp y về tử thi số 4475/22/GĐPY ngày 09/12/2022 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc GiAg kết luận:
1. Các kết quả chính qua giám Đ
- Khám ngoài: Vùng trán phải, đỉnh, thái dương trái có vết mổ hình vòng cung đã khâu. Trán phải có vết chợt da. Vùng thái dương trái có vết bầm tím. Diện khuyết xương sọ dưới vết mổ.
- Sọ não: Cắt chỉ vết mổ vùng trán phải, đỉnh, thái dương trái thấy tụ máu dưới da, màng cứng được khâu treo, tụ máu dưới màng cứng. Tổ chức não phù.
2. Kết luận:
Nguyên nhân chết: Chết do chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng, phù não do tai nạn giao thông.
Kết luận giám Đ số 2427/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công A tỉnh Bắc GiAg kết luận:
1. Dấu vết vỡ, trượt xước mất sơn, nhựa, hướng từ trước ra sau ở bên trái ốp nhựa đầu xe mô tô biển kiểm soát 97G1 - 002.87 (ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, trượt xước sơn, nhựa hướng từ trước ra sau ở bên trái ốp nhựa đầu xe và dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu xám - bạc (dạng sơn) ở mặt trước đầu tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 864.03 (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
Dấu trượt xước cao su, hằn lõm, chùn cong kim loại, bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở mặt lăn lốp, vành bánh trước và giảm sóc trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 97G1 - 002.87 (từ ảnh 10 đến ảnh 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ nhựa, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trước ra sau ở bên trái cụm chi tiết gắn đỡ để chân sau bên trái, ốp nhựa bảo vệ động cơ và cần khởi động của xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 864.03 (ảnh 8, 9, 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
2. Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 97G1 - 002.87 đổ nghiêng trái, rê trượt trên mặt đường T nên.
3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 97G1 - 002.87 với xe mô tô biển kiểm soát 98B1 - 864.03 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, thuộc chiều đường bên phải của đường Nguyễn Chí T theo hướng Xương GiAg đi Lê Lợi.
4. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện và dấu vết trên hiện trường, xác Đ tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện ngược chiều.
5. Không xác Đ tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Kết luận Đ giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 28/02/2023 của Hội đồng Đ giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc GiAg kết luận:
Những bộ phận bị hư hỏng cần thay mới và sửa chữa của xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X, BKS 97G1 - 002.87 bị hư hỏng do tai nạn giao thông, có tổng trị giá tại thời điểm ngày 29/10/2022 là 6.372.900 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn H đã bồi thường cho gia đình Ah Cao Thịnh A số tiền 100.000.000 đồng. Gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Về xử L vật chứng: Cơ quA điều tra đã trả lại Nguyễn Văn H chiếc xe mô tô BKS 98B1 - 864.03 và đăng ký xe, giấy phép lái xe; trả lại chiếc xe mô tô BKS 97G1-002.87 cho Ah Cao Thịnh Đ là đại diện hợp pháp của người bị hại.
Bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc GiAg, tỉnh Bắc GiAg đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ” được quy Đ tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác Đ đủ căn cứ chứng minh bị cáo phạm tội “Vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ” và giữ nguyên quA điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị: Xử phạt Nguyễn Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho H án treo, thời giA thử thách từ 3-4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X giám sát và giáo dục trong thời giA thử thách.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khai báo, bị cáo thấy ăn năn, hối cải, không trAh luận, không bào chữa gì. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo H án treo.
Ông Cao Thịnh C là đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông 100 triệu đồng, do bị cáo có hoàn C khó khăn nên ông không yêu cầu bồi thường thêm và vẫn giữ nguyên đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận Đ như sau:
[1]. Về hành vi, quyết Đ tố tụng của cơ quA có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy Đ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. HĐXX đánh giá các hành vi, quyết Đ của cơ quA và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, Ah Cao Thịnh Đ là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, những người tham gia tố tụng trên vắng mặt, tại hồ sơ vụ án những người tham gia tố tụng đã được lấy lời khai, trình bày rõ quA điểm, ý kiến của mình, do đó sự vắng mặt không ảnh H đến quá trình xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của BLTTHS quyết Đ tiếp tục xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền, nghĩa vụ liên quA, người làm chứng, Biên bản hiện trường được lập hồi 18 giờ ngày 29/10/2022, bản kết luận giám Đ pháp y về tử thi số 4475/22/GĐPY ngày 19/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc GiAg và phù hợp với thời giA, địa điểm xảy ra tội phạm. Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác Đ:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 29/10/2022, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô BKS 98B1 - 864.03 đi trên đường Nguyễn Chí T, thuộc địa phận phường Xương GiAg, thành phố Bắc GiAg do đi không đúng phần đường quy Đ (đi vào phần đường của xe ngược chiều) đã va chạm với xe mô tô BKS 97G1 - 002.87 do Ah Cao Thịnh A điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả làm Ah A bị chết do chấn thương sọ não. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do lỗi của bị cáo. Hành vi của Nguyễn Văn H vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ.
Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi “vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ” của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây đau thương mất mát cho những người thân của họ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ” quy Đ tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ Luật hình sự. Bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc GiAg, tỉnh Bắc GiAg đã truy tố bị cáo theo tội dAh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.
Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nhưng do bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn Đ, cụ thể, rõ ràng, đã khắc phục hậu quả và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy Đ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51của BLHS nên cho bị cáo cải T tại địa phương cũng đủ sức giáo dục, cải T bị cáo trở thành công dân tốt. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là phù hợp nên áp dụng cho bị cáo để thể hiện sự khoA hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử L vật chứng: Cơ quA điều tra đã trả lại bị cáo chiếc xe mô tô BKS 98B1 - 864.03 và đăng ký xe, giấy phép lái xe; trả lại chiếc xe mô tô BKS 97G1-002.87 cho Ah Cao Thịnh Đ là đại diện hợp pháp của người bị hại nên không đặt ra xem xét.
[7].Về trách nhiệm dân sự: BỊ cáo đã bồi thường cho gia đình Ah Cao Thịnh A số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.
[8].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy Đ tại Điều 21, 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy Đ về án phí, lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy Đ của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT Đ:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS; Điều 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy Đ về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy Đ về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho H án treo. Thời giA thử thách 3 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc GiAg giám sát và giáo dục trong thời giA thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy Đ của luật Thi hành án hình sự.
Trong thời giA thử thách, nếu người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy Đ của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết Đ buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H án treo.
3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết Đ được thi hành theo quy Đ tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAD, VKSND tỉnh Bắc GiAg; - VKSND TP Bắc GiAg; - Công A TP Bắc GiAg (Cơ quA CSĐT, Thi hành án hình sự); - Sở Tư pháp tỉnh Bắc GiAg; - Chi cục THADS thành phố Bắc GiAg; - Những người TGTT; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Thu Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |