- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Văn T 24 tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 65/2023/HS -ST Ngày 12 - 09 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Bà Đoàn Thị Dịu
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 09 năm 2023 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 08 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 08 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T ; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1977 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT - Nơi cư trú: Thôn P, xã T1, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2 (đã chết); con bà: Ngô Thị N ; Vợ: Cao Thị L; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2021.Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 1/9/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 5 năm tù về tội Giao cấu với trẻ em; ngày 13/2/2007 chấp hành xong;
Ngày 20/9/2012 bị Tòa án nhân dân Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 18/8/2014 chấp hành
Ngày 6/12/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 15/7/2018 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2023 đến ngày 01/6/2023 bị từ tạm giam đến nay (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/5/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 18E1-342.47 từ nhà đến khu vực cầu Tùng Lâm thuộc xóm 1, xã Hải Long, huyện Hải Hậu mục đích tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình gần chân cầu. Nghĩ người này có bán ma tuý, T đi lại gần hỏi: “Có hàng trắng không để em hai trăm" ý hỏi mua Heroine với giá hai trăm nghìn đồng. Người đàn ông đồng ý bán, nói “Tiền đâu, đưa đây". T lấy 200.000 đồng ra đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền rồi đưa lại cho T 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu đỏ. T kiểm tra biết đây là ma tuý cần mua liền cầm trên tay rồi quay về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày khi T đi xe máy về đến đường dong thuộc thôn H, xã T1, huyện Trực Ninh thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ trên tay T đang cầm 01 gói giấy bạc màu trắng. Mở kiểm tra, bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu đỏ đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng. T khai nhận đây là hai gói Heroine T mua, cất giấu để sử dụng. Cơ quan Công an tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định, ký hiệu M.
Ngoài ra còn thu của T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 18E1-34247.
Kết luận giám định số 787/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu đỏ, trong phong bì thư niêm phong ký hiệu là M gửi giám định là ma túy; loại ma túy Heroine tổng khối lượng mẫu là 0,196 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Cáo trạng số 61/CT - VKS - TN ngày 17 tháng 08 năm 2023 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 - 30 tháng tù.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.
Về quan điểm của Đại diện VKS, bị cáo tại phần thủ tục tranh luận: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng và đều giữ nguyên quan điểm. Quan điểm của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Bị cáo thừa nhận vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ là ma túy; Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.
Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi cất giấu trái phép 0,196g Heroine ngày 26/05/2023 của bị cáo Nguyễn Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS.
Ma tuý là một trong nguyên nhân phát sinh tình hình tội phạm, trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của bản thân, của gia đình bị cáo và của toàn xã hội, là tệ nạn đã và đang bị toàn xã hội lên án mạnh mẽ. Chính vì thế Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật đã nghiêm cấm hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.
Việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản Cáo trạng số 61/CT - VKS
- TN ngày 17 tháng 08 năm 2023, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới tình tiết: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án là những vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 18E1-34247 là phương tiện T sử dụng đi mua ma túy, qua xác minh là tài sản của chị Cao Thị L (là vợ của T). Ngày 26/5/2023, chị L không biết T lấy xe máy trên để đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị L.
HĐXX việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT là đúng quy định pháp luật nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Nguyễn Văn T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 05 năm 2023.
2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 787/KL - KTHS .(Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 22 tháng 08 năm 2023).
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - - VKSND tỉnh Nam Định + huyện Trực Ninh; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã Trực Thắng, huyện Trực Ninh; - Bị cáo; - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Chu Thái Hà |