- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S.D TỈNH T.Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày: 17/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S.D, TỈNH T.Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ma Quốc Thể.
2. Ông Nguyễn Danh Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện S.D.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S.D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 05/2023/TB-TA ngày 11 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
T.V.T, sinh ngày 25/8/1958 tại S.D, tỉnh T.Q; Nơi cư trú: Thôn T.T, xã Tr.S, huyện S.D, tỉnh T.Q; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T.V.Tr và bà N.T.T (đều đã chết); vợ: T.T.D, sinh năm 1963; Có 07 con, con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1997; Anh chị em ruột: có 09 người, bị cáo là con thứ 6; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.Q (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 12/2022, T.V.T là người sử dụng chất ma túy, đã nhiều lần mua ma túy về sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 01/12/2022, T.V.T đi đến khu vực xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tìm mua ma túy. Tần gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy với số tiền 2.000.000đ. Tần mang về nhà chia thành 05 gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán cho người khác. Tần đã sử dụng 01 gói tại nhà bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể. Đến khoảng 09 giờ 50 phút ngày 03/12/2022, Đoàn Văn Thành, sinh năm 1978, trú tại thôn Phú Thị, xã Chi Thiết, huyện S.D, tỉnh T.Q sử dụng điện thoại số 0366.738.285 gọi đến số 0915.838.566 của Tần hỏi mua ma túy để sử dụng. Tần đồng ý và hẹn Thành đến nhà Tần để mua bán. Khoảng 10 phút sau, Phạm Văn Công, sinh năm 1977, trú tại thôn Kim Xuyên, xã Hồng Lạc, huyện S.D sử dụng số điện thoại 0961.717.745 gọi đến số 0915.838.566 của Tần hỏi mua ma túy để sử dụng, Tần đồng ý và hẹn Công đến nhà Tần để mua bán. Tần lưu số điện thoại của Thành là “Thành Ch Thiết”, lưu số của Công là “Xe Ôk”. Khi Thành đến đoạn đường giáp bờ tường rào xây của nhà Tần thì Công cũng đến. Thành đưa cho Tần 500.000đ, Tần cầm tiền và đưa cho Thành 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng, ngay sau đó Công cũng đưa cho Tần 500.000đ, Tần cầm tiền và đưa cho Công 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng. Sau khi mua được Heroine, Công và Thành đi đến khu vực vắng người sử dụng hết số ma túy trên bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Đến ngày 05/12/2022 và ngày 10/12/2022, Tần đã sử dụng hết 02 gói ma túy còn lại bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.
Lần 2: Ngày 15/12/2022, Tần tiếp tục đi đến xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tìm mua ma túy. Tần gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy với số tiền 3.000.000đ. Tần mang về chia thành 08 gói to, nhỏ khác nhau. Tần đã sử dụng 01 gói tại nhà bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Đến khoảng 12 giờ ngày 16/12/2022, Thành và Công tiếp tục sử dụng điện thoại gọi cho Tần hỏi mua ma túy, Tần đồng ý, hẹn Thành và Công đến nhà để mua bán. Khi Thành và Công đến đoạn đường giáp bờ tường rào xây nhà Tần. Thành đưa cho Tần 1.000.000đ, Tần đưa cho Thành 01 gói Heroine gói bằng giấy màu vàng và trả Thành 500.000đ, Tần nói hết ma túy chỉ bán 01 gói 500.000đ. Công đưa cho Tần 1.250.000đ và nói mua 1.000.000đ ma túy và trả nợ cho Tần 250.000đ. Tần cầm tiền và đưa cho Công 01 gói bằng túi nilon màu vàng bên trong có 04 gói heroine. Sau đó Thành và Công đi đến khu vực bờ sông Lô thuộc xã Vụ Quang , huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ sử dụng ma túy. 02 gói ma túy còn lại Tần cất giấu trong nhà để bán.
Lần 3: Ngày 19/12/2022, Thành gọi điện cho Tần hỏi mua ma túy, Tần hẹn Thành đến nhà để mua bán. Trên đường đi Thành bị tổ công tác của Công an huyện S.D nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, yêu cầu Thành về Công an xã Tr.S để làm việc. Thành đã khai nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy và khai nhận đã gọi điện thoại cho Tần và đang trên đường đến nhà Tần để mua ma túy.
Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của T.V.T, thu giữ 02 gói giấy nilon màu hồng, bên trong gói bằng giấy nhiều màu có chứa chất bột vón cục màu trắng.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể T.V.T, Đoàn Văn Thành, Phạm Văn Công, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số 34/KL - KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Kết luận: Mẫu vật (thu giữ của T.V.T) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,240 gam (không phẩy hai bốn không gam).
Tại Cáo trạng số 60/CT-VKSSD, ngày 11/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D đã truy tố T.V.T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo T.V.T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo T.V.T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (19/12/2022).
Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của T.V.T, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q.
Truy thu của bị cáo sung quỹ nhà nước số tiền do phạm tội mà có là 2.500.000đ.
Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc cân điện tử màu trắng, hình chữ nhật, bên ngoài có dán tem bảo hành, có 02 dãy số gồm 123456 và 789101112; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu vàng, loại bàn phím số, số IMEI 355076049068878, bên trong lắp sim số 0983.760.690; 01sim số 0394.927.763. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 352812105625315/01, số IMEI 2: 352813105625313/01 bên trong lắp sim số 0915.838.566 và số 0917.507.585 của bị cáo.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 12/2022, T.V.T đã 03 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 03/12/2022, T.V.T bán trái phép 01 gói Heroine cho Đoàn Văn Thành với số tiền 500.000đ và bán 01 gói Heroine cho Phạm Văn Công với số tiền 500.000đ.
Lần 2: Khoảng 12 giờ ngày 16/12/2022, T.V.T bán trái phép 01 gói Heroine cho Đoàn Văn Thành với số tiền 500.000đ và bán 01 gói Heroine cho Phạm Văn Công với số tiền 1.000.000đ.
Lần 3: Ngày 19/12/2022, Đoàn Văn Thành gọi điện cho Tần hỏi mua ma túy, Tần hẹn Thành đến nhà để mua bán. Trên đường đi Thành bị tổ công tác của Công an huyện S.D nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, yêu cầu Thành về Công an xã Tr.S để làm việc. Thành đã khai nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy và khai nhận đã gọi điện thoại cho Tần và đang trên đường đến nhà Tần để mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của T.V.T, thu giữ 0,240 gam heroine, Tần khai mục đích để bán.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D truy tố T.V.T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người nghiện ma túy và đã nhiều lần thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến tại biên giới Phía Bắc, là người cao tuổi và là người trực tiếp thờ cúng bố mẹ liệt sỹ, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của T.V.T, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 chiếc cân điện tử màu trắng, hình chữ nhật, bên ngoài có dán tem bảo hành, có 02 dãy số gồm 123456 và 789101112; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu vàng, loại bàn phím số, số IMEI 355076049068878, bên trong lắp sim số 0983.760.690 và 01sim số 0394.927.763. Là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 352812105625315/01, số IMEI 2: 352813105625313/01 bên trong lắp sim số 0915.838.566 và số 0917.507.585 là điện thoại và sim bị cáo nhiều lần dùng để trao đổi mua bán ma túy đối với các đối tượng mua ma túy. Do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Số tiền 2.500.000đ là tiền do bị cáo bán ma túy cho các đối tượng nghiện mà có nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ở xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng, tỉnh phú Thọ, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T.V.T vào các ngày 01/12/2022, 05/12/2022, 10/12/2022 và 15/12/2022 tại thôn T.T, xã Tr.S, huyện S.D. Công an huyện S.D đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Tần (Quyết định số 29/QĐ-XPHC, ngày 18/01/2023, số tiền 1.500.000đ).
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T.V.T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Do bị cáo là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo T.V.T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo T.V.T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (19/12/2022).
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và T.V.T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ T.V.T giám định ngày 19/12/2022”.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 352812105625315/01, số IMEI 2: 352813105625313/01 bên trong lắp sim số 0915.838.566 và số 0917.507.585 của bị cáo.
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền do phạm tội mà có là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc cân điện tử màu trắng, hình chữ nhật, bên ngoài có dán tem bảo hành, có 02 dãy số gồm 123456 và 789101112; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu vàng, loại bàn phím số, số IMEI 355076049068878, bên trong lắp sim số 0983.760.690 và 01sim số 0394.927.763. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S.D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D)
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Danh Long - Ma Quốc Thể
Hoàng Thị Minh Khánh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T.Q; - VKSND tỉnh T.Q; - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ; - VKSND huyện S.D; - Công an huyện S.D; - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |