vanban.org

Bản án 65/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 07/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hờ A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hờ A C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/5/2023. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hờ A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hờ A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HS-ST
Ngày: 07-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thùng Văn Quân

2. Ông Hồ Chử Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hờ A C; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản Ng 2, xã B, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hờ Vàng Th (đã chết) và bà Giàng Thị Gi (đã chết); Bị cáo không có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án (Ngày 16/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 03/2020/HS-ST, chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/5/2023, sau đó tạm giam từ ngày 08/6/2023 cho tới nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hờ A C: Ông Lường Văn Bình, sinh năm 1983, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 30/5/2023, tổ công tác của Đồn Biên phòng B phối hợp với Công an xã B, đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Ng 2, xã B, huyện N tỉnh Điện Biên, phát hiện tại nhà Hờ A C có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, nên đã vào nhà kiểm tra. Khi tổ công tác vào nhà, thấy Hờ A C đang ngồi trên giường ngủ, tay phải đang cầm 01 gói nilon màu đen miệng được hơ lửa dán kín. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Hờ A C đã tự giác giao nộp gói nilon màu đen bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen và 01 gói nilon màu xanh miệng túi được buộc thắt nút, bên trong có chứa viên nén màu hồng được C cất giấu ở đầu giường ngủ giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói vật chứng nêu trên.

Tại cơ quan điều tra Hờ A C khai nhận: 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen là thuốc phiện và 01 gói nilon màu xanh bên trong có chưa viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp đều là của Hờ A C. Nguồn gốc 02 gói ma túy này là C hỏi xin của 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, tại khu vực đầu bản Ng 1, xã B, huyện N, tỉnh Điện Biên vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 28/5/2023. Sau khi xin được 02 chất ma túy, C đã sử dụng thuốc phiện 02 lần. Đến khoảng 10 giờ ngày 30/5/2023, C đang định lấy gói thuốc phiện ra để tiếp tục sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật, tài liệu ngày 31/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Hờ A C có khối lượng 1,64 (một phẩy sáu mươi tư) gam, trích toàn bộ làm mẫu giám định; 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 (không phẩy không chín) gam, trích toàn bộ làm mẫu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 849/KL-KTHS, ngày 06/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Hờ A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

- Mẫu chất dẻo màu nâu đen thu giữ của Hờ A C gửi giám định là chất ma túy: Loại Thuốc phiện.”

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSNP ngày 18/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Hờ A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hờ A C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hờ A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hờ A C từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Đối với vật chứng vụ án là nhựa Thuốc phiện và Methamphetamine đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu nên không đề nghị xem xét. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Hờ A C nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Hờ A C nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Hờ A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 30/5/2023, Hờ A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine và 1,64 (một phẩy sáu mươi tư) gam nhựa Thuốc phiện tại nhà bị cáo ở bản Ng 2, xã B, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nguồn gốc 02 chất ma túy này là do bị cáo xin của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu bản Ng 1, xã B vào khoảng 07 giờ 30 phút sáng ngày 28/5/2023. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân, vì bị cáo là người nghiện chất ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo Hờ A C tàng trữ 02 chất ma túy đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, trong đó nhựa Thuốc phiện có khối lượng thuộc điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, còn Methamphetamine có khối lượng dưới mức tối thiểu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249. Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy mà Hờ A C tàng trữ (so với mức tối thiểu được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự) là 2,128% (dưới 100%).

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hờ A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.

Về nhân thân: Bị cáo Hờ A C xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, sống buông thả nên đã nghiện ma túy. Ngày 16/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 03/2020/HS-ST, chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, sau khi trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này, do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngày 23/9/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 03/2020/HSST, ngày 16/11/2020, của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, đến ngày 30/5/2023 khi chưa được xóa án tích của bản án trước, bị cáo lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án là 1,64 gam nhựa thuốc phiện và 0,09 gam Methamphetamine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã gửi làm mẫu giám định toàn bộ, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên không hoàn lại mẫu, Viện kiểm sát không đặt vấn đề xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Hờ A C khai đã xin ma túy của 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 28/5/2023 tại khu vực đầu bản Ng 1, xã B, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã B, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hờ A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hờ A C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 30/5/2023.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hờ A C.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Hờ A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 07/9/2023./.

Cỡ chữ