- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HS-ST Ngày: 08-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Việt Hùng;
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST- HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Mai Văn Q, sinh năm 1980; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm Ph 2, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Tiến L, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1937 (đã chết ngày 11-7-2023); anh chị em ruột có 11 người, bị cáo là thứ mười; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29-01-2021, bị Tòa án nhân dân huyện H quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (ngày 18-8-2022 chấp hành xong).
Nhân thân: Ngày 30-3-1999, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng (ngày 29-5-2001 chấp hành xong); Ngày 19-01-2005, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ngày 03-6-2006 chấp hành xong hình phạt); Ngày 10-8-2007, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 30 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ (ngày 06-12-2009 chấp hành xong hình phạt); Ngày 26-8-2013, bị Tòa án nhân dân huyện X xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (ngày 11-12-2015 chấp hành xong hình phạt); Ngày 11-5-2016, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ngày 10-10-2018 chấp hành xong hình phạt).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-5-2023 cho đến nay, “có mặt”.
- Người làm chứng:
+ Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1984; “vắng mặt”
+ Anh Tạ Đức H, sinh năm 1987; “vắng mặt”
+ Ông Mai Văn U, sinh năm 1973; “có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 18-5-2023, Mai Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 18H1-080.45 từ nhà ở xóm Ph 2, xã H, huyện H đến khu vực chợ C, xã H, huyện H gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, Q cất giấu gói ma túy vào túi quần bò phía sau bên trái Q rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, Q đi đến khu vực đường dong thuộc xóm Ph 2, xã H thì bị tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bò phía sau bên trái của Q 01 gói giấy màu đỏ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu M). Q khai nhận đó là Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Mai Văn Q 02 ống nước cất Novocain 2ml, 02 bơm kim tiêm, Q mua của một cửa hàng thuốc không nhớ địa chỉ để sử dụng Heroine và 01 xe mô tô biển kiểm soát 18H1-080.45.
Tại Bản kết luận giám định số 754/KL-KTHS ngày 22-5-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu đỏ, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,189 gam.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS-HH ngày 20-7-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Mai Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Mai Văn Q từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định, 02 ống nước cất Novocain và 02 bơm kim tiêm.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã phạm tội. Bị cáo xin hứa sửa chữa lỗi lầm và đề nghị được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và thừa nhận đã phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 18-5-2023, tại khu vực đường dong, thuộc xóm Ph 2, xã H, huyện H, tổ công tác của Công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện bắt quả tang Mai Văn Q đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,189 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội bị Tòa án đưa ra xét xử và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi về hành vi vi phạm của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định nhưng áp dụng cho bị cáo mức thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 02 ống nước cất Novocain 2ml, 02 bơm kim tiêm là công cụ bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18H1-080.45 Q đã sử dụng đi mua Heroine là tài sản hợp pháp của anh Mai Văn U - anh trai của bị cáo. Anh U không biết Q sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho anh U quản lý sử dụng là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán Heroine cho Mai Văn Q vào sáng ngày 18-5-2023 tại khu vực chợ C, xã H, huyện H, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý.
Về án phí: Bị cáo Mai Văn Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
1.1. Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt Mai Văn Q 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-5-2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 754/KL-KTHS ngày 22-5-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; 02 bơm kim tiêm và 02 ống nước cất.
Vật chứng nêu trên được mô tả như tại Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 07-8-2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Mai Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh; - VKSND huyện + tỉnh; - Công an huyện; - THA dân sự; - THA hình sự; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TO PHI N TOÀ Phạm Thúy Nga |