- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Đào Anh Đ được ly hôn chị Trung Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Minh Khánh
Bà Nguyễn Thị Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐ-ST ngày 23/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đào Anh Đ, sinh ngày 15/11/1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
2. Bị đơn: Chị Trung Thị X, sinh ngày 14/3/1989 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).
Địa chỉ cuối cùng của chị X tại Việt Nam: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Đào Anh Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị X được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 10/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B), huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị X về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2016 anh đi xuất khẩu lao động tại Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất, năm 2017 chị X đi lao động tại Đài Loan. Vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng năm 2020 anh về nước sinh sống, anh gọi điện bảo chị X về nước sinh sống và cùng chăm sóc con cái nhưng chị X không về. Kể từ đó vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ giữa tháng 12/2020 đến nay anh và chị X không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Trung Thị X.
Về con chung: Anh và chị X có 01 con chung là cháu Đào Phương L, sinh ngày 27/7/2015. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Trung Thị X là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 10/02/2023 và 22/02/2023, ông Trung Văn E và bà Phạm Thị L là bố, mẹ chị Trung Thị X cho biết: anh Đ, chị X được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B), huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị X về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Năm 2017 chị X đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan một thời gian thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị X nói là do bất đồng quan điểm sống. Ông, bà có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để cùng chăm sóc con nhưng không được. Anh Đ, chị X có 01 con chung là là cháu Đào Phương L, sinh ngày 27/7/2015, hiện nay đang ở cùng anh Đ.
Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, ông bà đã thông báo cho chị X. Chị X thường xuyên liên lạc về với gia đình, trong những lần liên lạc chị cho biết: chị và anh Đ hiện nay không còn tình cảm với nhau nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh Đ, chị đồng ý giao con chung cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị hiện đang lao động tại Đài Loan nhưng chị không cung cấp cho Tòa án địa chỉ nơi làm việc tại Đài Loan và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết vụ án.
Cháu Đào Phương L trình bày. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bố, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở cùng bố.
Tại phiên tòa, anh Đào Anh Đ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Trung Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Đào Anh Đ, biên bản lấy lời khai của ông E, bà L là bố mẹ chị Trung Thị X và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Anh Đ.
Xử cho anh Đào Anh Đ được ly hôn chị Trung Thị X.
Về con chung: Do chị X hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đào Phương L, sinh ngày 27/7/2015 cho anh Đào Anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Anh Đ không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Anh Đào Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đ khởi kiện xin ly hôn chị X và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đ khởi kiện xin ly hôn chị X và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Theo Công văn trả lời số: 2631/QLXNC-P5 ngày 13/02/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh-Bộ công an cung cấp, chị X xuất nhập cảnh nhiều lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 30/01/2023, hiện chưa có thông tin nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định chị X hiện nay đang ở nước ngoài. Chị X là bị đơn, có hộ khẩu thường trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Anh Đào Anh Đ là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đào Anh Đ.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, ông E, bà L là bố mẹ chị X, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị X trước khi xuất cảnh lần gần nhất ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị X thông qua ông Eng, bà Lan và đề nghị ông E, bà L thông báo cho chị X biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là anh Đào Anh Đ và bị đơn là chị Trung Thị X. Ông E, bà L cho biết chị X vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị X không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị X tại Đài Loan. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Anh Đ và chị Trung Thị X kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B), huyện V, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Trung Thị X.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đào Anh Đ với chị Trung Thị X. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ, chị X chung sống hòa thuận và cùng đi lao động tại nước ngoài. Sau khi đi lao động vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ năm 2020 anh Đ về nước sinh sống còn chị X vẫn ở nước ngoài nên vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện thoại khuyên bảo anh, chị nhưng cũng không được. Anh Đ xác định từ tháng 12/2020 đến nay anh và chị X không còn liên lạc hỏi thăm nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh Đ, chị X không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị X, xử cho anh Đ được ly hôn chị X.
. Về nuôi con chung: Anh Đ, chị X có 01 con chung là cháu Đào Phương L, sinh ngày 27/7/2015. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng anh Đ và do anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh Đ đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét yêu cầu nuôi con chung của anh Đ: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị X đang lao động tại nước ngoài nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Con chung hiện đang sinh sống cùng anh Đ, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngoài ra, cháu Linh trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh Đ đối với yêu cầu giao con chung cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn đến khi con chung trong 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của con chung và nguyện vọng của cháu Linh.
Sau khi ly hôn chị Trung Thị X có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị X thực hiện quyền này.
Trường hợp chị Trung Thị X về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản, công nợ chung: Anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Anh Đào Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo:
Anh Đào Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Trung Thị X vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về hôn nhân: Anh Đào Anh Đ được ly hôn chị Trung Thị X.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đào Phương L, sinh ngày 27/7/2015 cho anh Đào Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Trung Thị X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Trung Thị X không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị X thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Anh Đào Anh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 00008141 ngày 12/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Đào Anh Đ đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Đào Anh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Trung Thị X có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |