- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vưu Thị Mộng Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 7 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Nhì.
Ông Trần Huy Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 65/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Vưu Thị Mộng Q; Sinh năm: 2004. Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Tạ Minh Ch; Sinh năm: 1996. Địa chỉ: ấp Ph, xã L, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 9 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Vưu Thị Mộng Q trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Vưu Thị Mộng Q và ông Tạ Minh Ch tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 2022, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, ngày 03/6/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau. Bà Q và ông Ch sống ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay. Nay Bà Q xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Ch không còn, nên Bà Q yêu cầu ly hôn với ông Ch; Về con chung: Trong thời gian chung sống Bà Q và ông Ch có 01 người con chung là Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022. Hiện nay, cháu Tạ Chí D đang sống với bà Vưu Thị Mộng Q. Bà Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Tạ Minh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống Bà Q và ông Ch không có tài sản chung và không có nợ chung, nên Bà Q không có yêu cầu gì.
Bị đơn là ông Tạ Minh Ch đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông Ch không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Ch.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; Xử giao cháu Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022 cho Bà Q nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Tạ Minh Ch là bị đơn trong vụ án, ông Ch đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Ch.
[1.2] Đối với nguyên đơn bà Vưu Thị Mộng Q đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt Bà Q.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Vưu Thị Mộng Q và ông Tạ Minh Ch là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 8/2022, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Bà Q yêu cầu được ly hôn với ông Ch là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của Bà Q. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho Bà Q được ly hôn với ông Ch.
Về con chung: Trong thời gian chung sống Bà Q và ông Ch có 01 người con chung là Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022. Hiện nay, cháu Tạ Chí D đang sống với bà Vưu Thị Mộng Q. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 9 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Bà Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Tạ Minh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với bị đơn là ông Tạ Minh Ch đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của Bà Q, nhưng ông Ch không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của Bà Q. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi Bà Q và ông Ch sống ly thân cho đến nay thì cháu D sống chung với Bà Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022 cho Bà Q nuôi dưỡng đến khi thành niên, do Bà Q không yêu cầu ông Ch phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông Ch không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Ch, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Q phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Ch không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vưu Thị Mộng Q.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Vưu Thị Mộng Q được ly hôn với ông Tạ Minh Ch.
2. Về con chung: Giao cháu Tạ Chí D, sinh ngày 03/8/2022 cho Bà Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu D thành niên. Ông Ch không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Ch, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vưu Thị Mộng Q không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vưu Thị Mộng Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng Bà Q được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006669 ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, Bà Q đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; ông Tạ Minh Ch không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Vưu Thị Mộng Q và ông Tạ Minh Ch có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Trần Đề; - Chi cục THADS huyện Trần Đề; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuyên |