vanban.org

Bản án 65/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Minh C và bà Tiết Thị Kim G. Về con chung: Do con chung đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/4/2023
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đạt.

2. Bà Phan Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện K - tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Minh C – sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp Bãi Giếng, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Tiết Thị Kim G – sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Bãi Giếng, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Trần Minh C trình bày và yêu cầu như sau:

Tôi với bà Tiết Thị Kim G chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến, không tin tưởng lẫn nhau. Xảy ra nhiều mâu thuẫn, chúng tôi thường xuyên cải vã, cảm thấy không hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi xin được ly hôn với bà G.

Về con chung: Chúng tôi có 01 người con chung tên Trần Thị L, sinh ngày 26/11/2002, hiện cháu Ly đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên tôi không có yêu cầu.

Về nợ chung và tài sản chung: Không có.

- Bà Tiết Thị Kim G trình bày:

Tôi với ông C chung sống với nhau từ năm 2002 nhưng chưa đăng ký kết hôn. Tôi nhận thấy rằng cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng không lớn. Nay tại phiên tòa nếu ông C cương quyết ly hôn thì tôi cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 01 người con chung tên Trần Thị L, sinh ngày 26/11/2002, hiện cháu Ly đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên tôi không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về việc "Xin ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn bà Tiết Thị Kim G có nơi cư trú tại ấp Bãi Giếng, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K. Đối với quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình để xem xét, giải quyết.

Xét về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Minh C và bà Tiết Thị Kim G chung sống với nhau nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mặt khác, cả ông C, bà G đều thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 và đến nay vẫn không đăng ký hết hôn. Do đó, hôn nhân giữa ông C, bà G đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 9 quy định: “1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý; 2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”. Ông C, bà G là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 14 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này…”. Ông C có yêu cầu xin ly hôn nhưng hôn nhân giữa ông C, bà G không có đăng ký kết hôn, nên xét không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông C mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông C, bà G theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 53 quy định: “1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; 2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Thị L, sinh ngày 26/11/2002, hiện cháu Ly đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên ông, bà không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về án phí: Do ông C có yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 144, 146, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 14, 53, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Minh C và bà Tiết Thị Kim G.

- Về con chung: Do con chung đã trưởng thành, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí sơ thẩm: Buộc ông C phải chịu số tiền án phí dân sự về hôn nhân là 300.000 đồng. Sau khi khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0006954 ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, nên ông C không phải nộp thêm.

- Về quyền kháng cáo: Ông C, bà G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ