vanban.org

Bản án 65/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nh.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Nh được ly hôn với anh Vi Văn B. Về con chung: Giao cháu Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và cháu Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015 cho chị Đặng Thị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vi Văn B không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Nh - Vi Văn B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 3 - 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lương Hữu San

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ma Thị Như Trang

2. Ông Nguyễn Việt Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12/10/2022 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Nh, sinh năm 1994.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Anh Vi Văn B, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

(Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Vi Văn B vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Đặng Thị Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn B được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi từ năm 2012, đến ngày 28/02/2013 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối phải kết hôn. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính tính không hợp nhau, anh B thường xuyên ra ngoài uống rượu say sau đó về chửi bới, đánh đập vợ con. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng anh B không thay đổi khiến cho mâu thuẫn ngày càng gay gắt dẫn đến việc chị đem theo các con về sống cùng bố mẹ đẻ tại xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và sống ly thân với anh Bốn từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Vi Văn B đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn B để giải phóng cho cả hai người đi tìm cuộc sống mới.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Vi Văn B có 02 con chung là Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn sống cùng chị nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Vi Văn B phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị không có tài sản, đất đai chung; không vay nợ của ai, cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn anh Vi Văn B không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Nh.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và ông Vi Văn Tiến là bố đẻ của bị đơn anh Vi Văn B, nội dung thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B kết hôn với nhau từ năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới vợ chồng chị Nh, anh B về chung sống tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng sau đó đền khoản năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau. Chị Nh đã đem theo các con về sống cùng bố mẹ đẻ tại xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và sống ly thân với anh B từ năm 2019 cho đến nay. Chính quyền địa phương và người thân thích của anh Vi Văn B xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B đã đến mức độ trầm trọng không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị Nh theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B có 02 con chung là Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị Nhỏ đã đem theo cả hai con về sống cùng bố mẹ đẻ tại xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Vợ chồng chị Đặng Thị Nh, anh Vi Văn B không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.

Về hộ khẩu thường trú: Kể từ kết hôn chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó do phát sinh mâu thuẫn nên chị Nh đem theo các con về sống cùng bố mẹ đẻ tại huyện S còn anh B vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Đ, xã H. Hiện tại anh Vi Văn B đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà nhưng thường xuyên liên lạc với gia đình. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chính quyền địa phương đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sau đó chuyển lại cho người thân trong gia đình, gia đình cũng đã thông báo lại cho anh B biết về việc chị Nhỏ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B và Tòa án triệu tập anh Bốn đến làm việc, tuy nhiên anh B báo lại là đang bận đi làm ăn xa nên không về để đến Tòa án làm việc được, nhưng anh B không thông báo cho gia đình và địa phương biết anh B hiện đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể như thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 26, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Vi Văn B chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nh:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Nh được ly hôn với anh Vi Văn B.

+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015 cho chị Đặng Thị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vi Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương thể hiện chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B không có tài sản, đất đai vay nợ chung, nguyên đơn chị Đặng Thị Nh cũng không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn anh Vi Văn B không phải nộp tiền án phí.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:

Chị Đặng Thị Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Văn B, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vi Văn B có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại gia đình và địa phương cho thấy bị đơn anh Vi Văn B có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn chị Đặng Thị Nh đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn anh Vi Văn B. Anh B đi làm ăn xa nhưng không thông báo tạm trú, tạm vắng cho chính quyền địa phương biết, thỉnh thoảng vẫn về nhà và thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không thông báo địa chỉ mới nên gia đình và địa phương không rõ anh B hiện đang làm gì, ở đâu. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định của pháp luật, mặc dù anh B đã biết được việc chị Nh khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng anh B không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh B đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, cố tình vắng mặt nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Nh thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Vi Văn B chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B kết hôn với nhau từ năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối phải kết hôn và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không hợp về tính cách nên vợ chồng thường xuyên cãi vãi, đánh chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên can nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hàn gắn nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn hỏi han, quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Chị Nh xác định tình cảm vợ chồng với anh Vi Văn B đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh B. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Đặng Thị Nh được ly hôn với anh Vi Văn B là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về con chung: Quá trình chung sống chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B có 02 con chung là cháu Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và cháu Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015. Kể từ khi vợ chồng ly thân thì các con vẫn sống cùng chị Nhỏ. Quá trình giải quyết vụ án chị Nhỏ đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Vi Văn B phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Các cháu Vi Bảo Ch và Vi Bảo Ph cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Ngoài ra, hiện tại anh Bốn cũng thường xuyên vắng nhà, đi làm ăn xa, không có địa chỉ liên lạc cụ thể. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, HĐXX thấy rằng cần giao cả 02 con chung là cháu Vi Bảo Ch và cháu Vi Bảo Ph cho chị Đặng Thị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vi Văn B không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng chị Đặng Thị Nh và anh Vi Văn B không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Nh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn anh Vi Văn B không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nh.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Nh được ly hôn với anh Vi Văn B.

2. Về con chung: Giao cháu Vi Bảo Ch, sinh ngày 27/7/2013 và cháu Vi Bảo Ph, sinh ngày 30/4/2015 cho chị Đặng Thị Nh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vi Văn B không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005748, ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ghi nhận chị Đặng Thị Nh đã nộp đủ tiền án phí.

Bị đơn anh Vi Văn B không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đặng Thị Nh và bị đơn anh Vi Văn B được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ