- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuyền - Tô"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2023/HN&GĐ-ST Ngày: 11/7/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Bình.
2. Ông Nguyễn Đức Binh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
- Phiên tòa không có Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia.
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 240/2023/TLST-HN&GĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1998.
Nơi cư trú: Tổ 8, thôn 2, xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT.
Địa chỉ liên hệ: Số 19A, đường Nguyễn Khuyến, khu phố 1, thị trấn Võ Xu, huyện ĐL, tỉnh BT.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Như T2, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: Tổ 8, thôn 2, xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” lập ngày 12/5/2023, cùng các bản tự khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì việc trình bày của chị Nguyễn Thị Kim T thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Như T2 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau rồi đi đến kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT, giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2017, ngày 20/4/2017. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh T2 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do cuộc sống gia đình luôn bất hòa, không hạnh phúc. Chị xác định không còn tình cảm yêu thương, quý trọng đối với anh T2 nữa. Nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T2.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh T2 có với nhau 01 người con chung tên NĐB, sinh ngày: 08/12/2020. Chị yêu cầu giải quyết quyền được trực tiếp nuôi dưỡng 01 người con chung. Chị không yêu cầu anh T2 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản khai của anh Nguyễn Như T2 ngày 09/6/2023, thể hiện.
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Kim T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến kết hôn vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT, giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2017, ngày 20/4/2017. Trong thời gian chung sống, anh và chị T có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do cuộc sống gia đình luôn bất hòa, không hạnh phúc. Tháng 09/2022, anh đã nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị T nhưng trong quá trình hòa giải tại Tòa án anh đã rút đơn khởi kiện. Anh cho rằng đó là những chuyện nhỏ, vặt vảnh trong gia đình. Gần đây, chị T đã dẫn con ra ở trọ, từ đó hai vợ chồng sống ly thân với nhau. Anh đã nhiều lần liên lạc, muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T không đồng ý và đã làm đơn xin ly hôn. Anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T và yêu cầu Tòa án hòa giải đoàn tụ.
Về con chung: Anh và chị T có với nhau 01 người con chung tên NĐB, sinh ngày: 08/12/2020. Con hiện đang sống với mẹ từ ngày 2 vợ chồng ông ly thân đến nay. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa anh đồng ý để chị T là người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đại Bình.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do vụ án không thuộc trường hợp Tòa án phải thực hiện các thủ tục tố tụng để tiến hành thu thập chứng cứ, cũng không có đối tượng tranh chấp thuộc các trường hợp quy định ở khoản 2, Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cho nên phiên tòa không có sự tham gia của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL, tỉnh BT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện lập ngày 12/5/2023, Toà án xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Nguyên đơn, bị đơn có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng trên địa bàn huyện ĐL, tỉnh BT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐL theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim T và anh Nguyễn Như T2 có thời gian tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT, giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2017, ngày 20/4/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân của anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do không đồng cảm, chia sẻ cho nhau. Dẫn đến đời sống vợ chồng không êm ấm, thường xuyên xảy ra cãi vã, gây gỗ rồi sống ly thân. Trong quá trình tố tụng, Tòa án cũng đã tổ chức nhiều phiên hòa giải, nhằm hàn gắn cho anh chị về chung sống đoàn tụ với nhau, nhưng kết quả hòa giải không thành. Tại phiên tòa chị T xác định không còn tình cảm yêu thương gì với anh T2 nữa, chị nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T2. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T2 thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T yêu cầu giải quyết cho chị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên: NĐB, sinh ngày: 08/12/2020. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị T là hoàn toàn chính đáng, không trái với quy định của pháp luật. Hiện cháu Nguyễn Đại Bình đang sống với chị T ổn định và tuổi còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), rất cần sự quan tâm và chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ. Đồng thời, anh T2 cũng không tranh chấp về quyền nuôi con, anh đồng ý để chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bình. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần ghi nhận sự thỏa thuận về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh chị là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T2 không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến trong bản án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là người phải chịu án phí sở thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng án lệ: Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Nguyễn Như T2 là vụ án Hôn nhân và gia đình. Theo đơn khởi kiện của chị T thì Tòa án xem xét giải quyết quan hệ ly hôn theo quy định của luật Hôn nhân và Gia đình. Nghiên cứu tất cả án lệ do Tòa án nhân dân Tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 8, 9, 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim T.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim T ly hôn anh Nguyễn Như T2.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con chung Nguyễn Đại Bình, sinh ngày: 08/12/2020.
Anh Nguyễn Như T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T2 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T2.
Chị T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Như T2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con,
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí do chị T đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015103, ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐL. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2023). (đã giải thích).
6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thị hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan thi hành án cùng cấp; - UBND xã NC; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Xong- xem lại điều luật | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đức Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |