vanban.org

Bản án 65/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 17/11/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp QSDĐ giữa ông Trác Khai P và ông Phan T"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2023/DS-PT
Ngày: 17-11-2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất;
Yêu cầu buộc tháo dỡ tài sản trên đất
tranh chấp; Yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu

Các thẩm phán:

Ông Hàng Lâm Viên

Bà Phạm Thị Anh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu buộc tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2023/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2023 gi a các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trác Khai P, sinh năm: 1956 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào Văn P1, sinh năm: 1954 theo Văn bản ủy quyền ngày 13/9/2023 (có mặt).

Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

2. Bị đơn: Ông Phan T, sinh năm: 1971 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1972 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1956 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

5. Người kháng cáo: Ông Trác Khai P là nguyên đơn.

6. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận

NỘI DUNG V ÁN:

Tại đơn kh i kiện uá t nh gi i u t v án và tại phiên tòa ngu ên đơn ông Trác Khai P và đại diện hợp pháp của ông P t nh à :

Ông và bà Nguyễn Thị H1 là v ch ng. Năm 2004, v ch ng ông nhận chuyển như ng của v ch ng ông Huỳnh T1, bà Đặng Thị T2 10.000m2 đất thuộc thửa đất số 01, tờ bản đ suối nước mặn xã M, trước khi chuyển như ng cho ông thì diện tích đất này đã đư c Ủy ban nhân dân (vi t tắt là UBND) huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (vi t tắt là GCNQSDĐ) cho ông T1, bà T2. Việc chuyển như ng gi a hai bên có lập h p đ ng chuyển như ng vào ngày 25/8/2004 và đư c UBND xã M, huyện N chứng thực ngày 15/10/2004.

Để thực hiện h p đ ng chuyển như ng đất, v ch ng ông và v ch ng ông T1, bà T2 đã ti n hành đo đạc thực t và xác định t ng diện tích đất là khoảng 20.000m2 (02 Ha). Sở dĩ diện tích đất chuyển như ng trong GCNQSDĐ và diện tích đất thực t của ông T1, bà T2 có sự chênh lệch là do khi v ch ng ông T1, bà T2 làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đã tự kê khai, ước lư ng chứ không đo đạc thực t diện tích đất.

Diện tích 20.000m2 có vị trí tứ cận cụ thể:

- Phía Đông giáp đất ông Huỳnh Q là em ruột ông Huỳnh T1.

- Phía Tây giáp đất ông T lò gạch, tức là ông Phan T.

- Phía Nam giáp đất ông Năm S.

- Phía Bắc giáp đất ông Bảy N.

Đ n năm 2008, do có chủ trương cấp đất cho các hộ dân nên Sở Tài nguyên và Môi trường phối h p với UBND huyện N và UBND xã M ti n hành đo đạc toàn bộ đất đai tại xã M và xác định phần đất v ch ng ông nhận chuyển như ng của v ch ng ông T1, bà T2 là 22.405m2 tương ứng với thửa đất số 122, tờ bản đ số 43 xã M có diện tích 16.875m2 và thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M có diện tích 5.530m2.

Năm 2011, v ch ng ông làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đối với toàn bộ thửa đất số 122, diện tích 16.875m2 và thửa đất số 120, diện tích 5.530m2. Tuy nhiên do hạn mức sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của Luật Đất đai nên v ch ng ông chỉ đư c UBND huyện N cấp GCNQSDĐ thửa 122 diện tích 16.875m2.

Đối với thửa 120, diện tích 5.530m2 thì v ch ng ông không đư c cấp GCNQSDĐ do vư t hạn mức.

Đối với phần đất thuộc thửa 120, sau khi nhận chuyển như ng của v ch ng ông T1, bà T2 thì v ch ng ông canh tác đư c 02 năm, sau đó v ch ng ông cho người dân thuê để tr ng hoa màu.

Ngày 20/4/2011, v ch ng ông làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đối với thửa 120 và đã đư c ông Phan T ký xác nhận tại Phi u lấy ý ki n của khu dân cư về ngu n gốc và thời điểm sử dụng đất. Sau khi làm thủ tục, v ch ng ông ti p tục làm đơn xin cấp GCNQSDĐ thửa 120 gửi đ n Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N nhưng do ông Huỳnh T1 không đ ng ý ký xác nhận việc chuyển như ng đất cho v ch ng ông nên việc đăng ký xin cấp GCNQSDĐ bị d ng lại. Trong quá trình sử dụng đất, v ch ng ông không khai phá, không mở rộng ranh giới đất vì ranh giới của thửa 120 với các thửa đất liền kề đã r ràng.

Đ n cuối năm 2019, v ch ng ông phát hiện v ch ng ông T, bà H đã tự ý sang ủi diện tích 2.538m2 thuộc một phần thửa 120 và quản lý, sử dụng diện tích đất này cho đ n nay. Trên phần diện tích 2.538m2, v ch ng ông T, bà H đã xây dựng 01 h chứa nước và 01 nhà kho để phục vụ chăn nuôi. Hiện nay, v ch ng ông T, bà H đã hoàn thiện h chứa nước, còn nhà kho đã bị UBND xã M đình chỉ việc xây dựng.

Tại đơn khởi kiện ngày 07/7/2020, ông P khởi kiện yêu cầu ông T phải trả lại diện tích 2.538m2 thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Quá trình giải quy t vụ án, tại phiên h p kiểm tra việc giao nộp, ti p cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông P xác định yêu cầu khởi kiện như sau:

1. Yêu cầu v ch ng ông T bà H phải trả lại cho v ch ng ông P bà H1 quyền sử dụng diện tích 1.674m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, thuộc một phần thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Yêu cầu v ch ng ông T bà H phải tháo dỡ toàn bộ các tài sản mà v ch ng ông T bà H đã xây dựng trái phép trên diện tích 1.674m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, thuộc một phần Thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Đối với phần đất thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận có hiện trạng là bờ đá gom cây bụi có diện tích 827m2 và phần đất v ch ng ông P bà H1 đang quản lý có diện tích 3.029m2 đư c xác định b ng các điểm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 14) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N thì không yêu cầu Tòa án giải quy t.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28/12/2022 và ngày 10/8/2023, ông P xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

1. Yêu cầu công nhận cho v ch ng ông P bà H1 đư c quyền sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M, diện tích 5.530m2, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Yêu cầu v ch ng ông T bà H phải trả lại cho v ch ng ông P bà H1 quyền sử dụng diện tích 1.674m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Yêu cầu v ch ng ông T bà H phải tháo đỡ toàn bộ vật ki n trúc đã xây dựng trên diện tích 1.674m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, thuộc một phần thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại ch và định giá tài sản: Ông P yêu cầu v ch ng ông T, bà H phải chịu toàn bộ.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông T và bà H về việc yêu cầu Tòa án công nhận cho v ch ng ông T, bà H đư c quyền sử dụng diện tích 1.674m2 thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M đư c xác định b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N thì ông không đ ng ý.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và đại diện h p pháp của nguyên đơn trình bày b sung:

Đối với diện tích v ch ng ông nhận chuyển như ng của v ch ng ông T1, bà T2 thì không có mốc giới gi a đất của v ch ng ông T1, bà T2 với đất của các hộ liền kề; khi nhận chuyển như ng hai bên cũng không đo đạc diện tích đất thực t mà chỉ ước lư ng.

Tại đơn ph n t iên n

i khai và tại phiên tòa đơn ông Phan T t nh à :

Diện tích 1.674m2 thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M n m trong một phần diện tích khoảng 10.000m2 do v ch ng ông nhận chuyển như ng của ông Lê D vào ngày 23/01/2002. Phần đất ông Lê D chuyển như ng cho v ch ng ông có vị trí tứ cận:

- Phía Đông giáp suối;

- Phía Tây giáp đất ông Ba N1;

- Phía Nam giáp đất chủ nhà hàng T5;

- Phía Bắc giáp đất ông Huỳnh T1 (sau này ông T1 chuyển như ng lại cho ông Trác Khai P).

Sau khi chuyển như ng, v ch ng ông canh tác n định t năm 2002 cho đ n khi ông P tranh chấp. Tại thời điểm nhận chuyển như ng đất năm 2002, diện tích 1.674m2 thuộc một phần thửa 120 có hiện trạng là cây bụi, bờ đá. Năm 2008, khi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận c ng UBND huyện N ti n hành đo đạc bản đ địa chính xác định v ch ng ông là người đang trực ti p khai phá, cải tạo, quản lý và sử dụng phần đất n m về phía Nam của thửa 120, còn phần đất n m ở phía Bắc của thửa 120 thì không có ai canh tác, quản lý hay sử dụng gì và hiện nay v n còn nguyên hiện trạng là cây bụi, bờ đá. Do đó, ông đư c ghi nhận là người đang trực ti p quản lý, sử dụng thửa 120.

Năm 2011, v ch ng ông nhận chuyển như ng của ông Phan Phát T3 7.000m2 đất giáp với phần đất ông nhận chuyển như ng của ông Lê D. Năm 2013, v ch ng ông làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với phần đất mà v ch ng ông đã nhận chuyển như ng của ông Lê D và ông Phan Phát T3 và v ch ng đã đư c UBND huyện N cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên phần đất 1.674m2 thuộc một phần thửa 120 chưa đư c UBND huyện N cấp GCNQSDĐ do vư t hạn điền.

Ông không đ ng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, bà H1 và v ch ng ông có yêu cầu phản tố như sau:

Yêu cầu Tòa án công nhận cho v ch ng ông T bà H đư c quyền sử dụng diện tích 1.674m2 thuộc một phần thửa đất số 120, tờ bản đ số 42 xã M đư c xác định b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N.

Về chi phí tố tụng: Ông đề nghị Tòa án giải quy t theo quy định pháp luật.

Quá t nh gi i u t v án và tại phiên tòa ngư i có u ền ợi nghĩa v iên uan có êu cầu độc ập à Phạm Th H trình bày:

Bà là v ông Phan T. Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ch ng bà. Đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn thì bà không đ ng ý. Quá trình giải quy t vụ án, bà c ng ch ng có yêu cầu công nhận diện tích đất 1.674m2 thư c một phần thửa 120 cho v ch ng bà, yêu cầu này đư c thể hiện trong Đơn phản tố đề ngày 08/12/2022 cùng với ông T. Bà v n gi nguyên toàn bộ yêu cầu độc lập này và đề nghị Tòa án xem xét, giải quy t theo quy định của pháp luật.

Quá t nh gi i u t v án và tại phiên tòa ngư i có u ền ợi nghĩa v liên quan bà Ngu ễn Th H1 trình bày:

Bà là v ông Trác Khai P. Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông P và không b sung gì thêm. Bà đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ông P.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N đã quy t định:

1. Áp dụng:

- Các Điều 5, 15, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 143, 144, 147, 155, 156, 157, 158, 244, 271, 273 và 483 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 50 Luật Đất đai năm 2004, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Quy t định:

2.1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trác Khai P và bà Nguyễn Thị H1 có nội dung:

- Yêu cầu v ch ng ông Phan T bà Phạm Thị H phải trả lại cho v ch ng ông T4 Khai Phát bà Nguyễn Thị H1 quyền sử dụng diện tích 1.674 m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, thuộc một phần Thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Yêu cầu v ch ng ông Phan T bà Phạm Thị H phải tháo đỡ toàn bộ vật ki n trúc đã xây dựng trên diện tích 1.674 m2, thuộc một phần Thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N.

2.2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trác Khai P và bà Nguyễn Thị H1.

Ông Trác Khai P và bà Nguyễn Thị H1 đư c quản lý, sử dụng một phần Thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M, t a lạc tại thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận có t ng diện tích 3.856 m2 đư c xác định b ng các điểm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 14) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N, bao g m:

- Phần đất có hiện trạng là bờ đá gom cây bụi có diện tích 827 m2;

- Phần đất v ch ng ông P bà H1 đang quản lý có diện tích 3.029 m2.

Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Trác Khai P và bà Nguyễn Thị H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2.3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Phan T và bà Phạm Thị H.

Ông Phan T và bà Phạm Thị H đư c quản lý, sử dụng một phần Thửa đất số 120 tờ bản đ số 42 xã M có diện tích 1.674 m2, đư c ký hiệu b ng các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N.

Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông Phan T, bà Phạm Thị H có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền, nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 15/8/2023, ông Trác Khai P kháng cáo bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N với nội dung:

- Yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N.

- Đề nghị Hội đ ng xét xử hủy quy t định của bản án đã giao cho ông Phan T, bà Phạm Thị H 1.674m2 đất.

- Chấp nhận cho v ch ng ông P, bà H1 đư c quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 5.530m2 thuộc thửa 120 và yêu cầu ông T, bà H phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên 1.674m2 tranh chấp.

Ngày 08/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận có quy t định kháng nghị số 04/QĐ-KN với nội dung: Kháng nghị một phần bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N theo hướng hủy một phần bản án đối với phần công nhận quyền sử dụng đất 3.856m2 cho ông P, bà H1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quy t vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Hội đ ng xét xử, Thư ký và nh ng người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự t khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đ n thời điểm xét xử tại phiên tòa hôm nay.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của ông P. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Ông P rút yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Tòa án công nhận diện tích 3.856m2 cho ông P, bà H1. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông P là hoàn toàn tự nguyện, đư c bị đơn ông T và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan bà H1, bà H đ ng ý, vì vậy căn cứ Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử hủy và đình chỉ giải quy t đối với yêu cầu khởi kiện của ông P về việc yêu cầu công nhận 3.856m2 cho ông P, bà H1.

Tại phiên tòa, ông P không rút hoặc thay đ i, b sung nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quy t vụ án. Đơn kháng cáo của ông P còn trong hạn luật định, là h p lệ nên đư c xem xét, giải quy t.

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quy t “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu buộc tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp” là chưa đầy đủ, cấp phúc thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu buộc tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp; Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”.

Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2020, ông P khởi kiện ông T yêu cầu ông T trả lại diện tích đất 2.538m2. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự thì ông P là nguyên đơn, ông T là bị đơn và các đương sự khác tham gia vụ án (n u có) nhưng không đứng đơn khởi kiện hoặc không bị kiện là người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan. Tại thông báo thụ lý ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân huyện N xác định ông P là nguyên đơn, ông T là bị đơn là đúng, tuy nhiên trong quá trình giải quy t vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đưa thêm người tham gia tố tụng và xác định lại tư cách tố tụng của các đương sự như sau: ông P, bà H1 (v ông P) là đ ng nguyên đơn và ông T, bà H (v ông T) là đ ng bị đơn là chưa chính xác. Vì vậy, Hội đ ng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của ông P là nguyên đơn, ông T là bị đơn, bà H1, bà H là người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan.

Đối với bà H, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà H có đơn phản tố là chưa chính xác mà phải xác định bà H có yêu cầu độc lập, tuy nhiên tại đơn phản tố ngày 08/12/2022, bà H và ông T c ng đứng đơn và đã nộp tạm ứng án phí, vì vậy cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung yêu cầu này của bà H và xác định đây là yêu cầu độc lập.

Xét nội dung kháng cáo của ông Trác Khai P yêu cầu Hội đ ng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, buộc ông T, bà H phải trả lại cho ông diện tích là 1.674m2 đất đã lấn chi m; Yêu cầu v ch ng ông T, bà H phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên phần đất 1.674m2, nhận thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P, bà H1 cũng như ông T, bà H đều thống nhất xác định diện tích 1.674m2 đư c giới hạn bởi các điểm (9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,20) theo trích lục bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N là phần diện tích đất tranh chấp gi a hai bên.

Quá trình giải quy t vụ án, ông P, bà H1 cho r ng phần diện tích 1.674m2 mà v ch ng ông T, bà H đang quản lý sử dụng là của v ch ng ông P nhận chuyển như ng của v ch ng ông T1, bà T2, tuy nhiên tại giai đoạn sơ thẩm cũng như phúc thẩm, ông P, bà H1 đều không đưa ra đư c bất cứ chứng cứ nào chứng minh phần diện tích đất 1.674m2 đang tranh chấp là diện tích đất mà ông P, bà H1 nhận chuyển như ng của ông T1, bà T2.

Tại h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất lập ngày 25/8/2004 gi a ông P và v ch ng ông T1 bà T2 chỉ thể hiện hai bên chuyển như ng phần diện tích đất đã đư c UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số 02028 cho ông T1, bà T2 là thửa số 01, diện tích 10.000m2, ngoài ra không thể hiện việc chuyển như ng phần diện tích đất nào khác.

Mặt khác, ông T1, bà T2 có lời khai xác định về ranh giới của phần diện tích tranh chấp như sau: “ Hiện trạng hiện nay của thửa đất không có gì thay đ i so v i thời điểm ông chuyển nhượng đất cho ông P, ranh gi i thửa đất không có lấn chi m” - Lời trình bày này của v ch ng ông T1 ph h p với biên bản xác minh của nh ng người làm chứng, ph h p với nội dung h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất gi a ông T1, bà T2 với ông P, bà H1 và ph h p với quá trình sử dụng đất của các bên cũng như các tài liệu mà UBND xã M lưu tr .

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P về việc đòi v ch ng ông T, bà H phải trả lại cho v ch ng ông P 1.674m2 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, ông P, bà H1 không cung cấp đư c chứng cứ mới để làm thay đ i nội dung vụ án, vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông P.

Xét việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T và yêu cầu độc lập của bà H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng 1.674m2 cho v ch ng ông T là không chính xác vì phần đất 1.674m2 đư c ông T, bà H xác định là đất vư t hạn điền nên đã không đư c UBND huyện N cấp GCNQSDĐ, do đó cấp sơ thẩm đã công nhận 1.674m2 cho ông T bà H là chưa đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy, cấp phúc thẩm sửa phần quy t định này đối với ông T, bà H, không chấp nhận yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập này của ông T, bà H.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đề nghị Hội đ ng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm đối với việc công nhận 3.856m2 đất cho ông Trác Khai P, nhận thấy:

Ông P khởi kiện tranh chấp phần diện tích 1.674m2 với ông T, phần diện tích còn lại 3.856m2 không tranh chấp và hiện nay ông P đang quản lý, sử dụng phần diện tích này, vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận 3.856m2 đất này cho ông P là không đúng thẩm quyền giải quy t, do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận kháng nghị đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm đối với việc công nhận 3.856m2 cho ông P là có cơ sở, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông P đã rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng 3.856m2 đất và việc rút đơn đư c phía ông T, bà H, bà H1 đ ng ý. Vì vậy, căn cứ Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử phúc thẩm hủy và đình chỉ giải quy t vụ án đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 3.856m2.

T nh ng đánh giá, phân tích nêu trên, Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trác Khai P. Hủy và đình chỉ giải quy t đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 3.856m2. Sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí:

Do sửa án sơ thẩm nên ông P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm đư c xác định lại như sau:

Ông P đư c miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tu i.

Ông T, bà H m i người phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm nhưng đư c khấu tr vào 300.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp. Ông T, bà H còn phải nộp 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

QU T ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,

Sửa bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện N.

Căn cứ Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 50 Luật Đất đai năm 2004, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác toàn bộ kháng cáo của ông Trác Khai P.

Hủy và đình chỉ giải quy t đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trác Khai P về yêu cầu công nhận quyền sử dụng 3.856m2 đất cho ông Trác Khai P và bà Nguyễn Thị H1.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trác Khai P về việc yêu cầu ông Phan T phải trả lại cho ông T4 Khai Phát quyền sử dụng diện tích 1.674m2 thuộc một phần thửa đất số 120 đư c giới hạn bởi các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trác Khai P về việc yêu cầu v ch ng ông Phan T, bà Phạm Thị H phải tháo đỡ toàn bộ vật ki n trúc đã xây dựng trên diện tích 1.674m2 đất tranh chấp.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Phan T và yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.674 m2 đư c giới hạn bởi các điểm (9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) theo Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N cho v ch ng ông bà.

Về chi ph xem xét thẩm đ nh tại ch và đ nh giá tài s n:

Ông Trác Khai P phải chịu 11.676.309 đ ng (Mười một triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn ba trăm l chín đ ng). Ông Trác Khai P đã nộp đủ.

Về án ph :

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trác Khai P. Hoàn trả cho ông T4 Khai Phát 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022431 ngày 18/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Buộc ông Phan T và bà Phạm Thị H m i người phải chịu 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) án phí sơ thẩm nhưng đư c khấu tr vào 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Phan T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006048 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Ông T, bà H còn phải nộp 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trác Khai P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng ch Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

K m theo Bản án là Đo đạc chỉnh lý bản đ địa chính ngày 18/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận Chi nhánh N.

Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án (ngày 17/11/2023).

Cỡ chữ