vanban.org

Bản án 65/2022/QĐPT-HC — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/01/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số

01/2021/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận X, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "“Khiếu kiện hành vi hành chính về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”"
  • Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải; Điều 115 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải; Điều 123 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 65/2022/QĐPT-HCTP. Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Nam Bình.

Các Thẩm phán:

Ông Đào Hồng Cảnh

Bà Lê Thị Thương Huyền.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Trọng Luân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên họp:

Bà Thân Trọng Minh Phương - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2021/QĐST-

HC ngày 30 tháng 9 năm 2021, Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí

Minh đã căn cứ vào khoản 3, 4 Điều 3; khoản 5 Điều 38; Điều 115; điểm a

khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành

chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 03/2020/TLST-HC ngày 29

tháng 12 năm 2020 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính về xử lý vi phạm

hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:

Người khởi kiện: Công ty M.

Địa chỉ trụ sở: Số 18 đường a , khu phố 1, phường N, Quận X, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, Quận X, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Địa chỉ trụ sở: Số 340 đường b, phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 6012/QĐ-VKS-HC ngày

21/10/2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề

nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án hành chính số 01/2021/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2021, Tòa

án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh với các lý do:

- Công ty M khởi kiện đối với hành vi không ra quyết định xử lý vi phạm

đổ rác gây ô nhiễm môi trường của Công ty T là khởi kiện đúng theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 3; Điều 5; điều 115 của Luật tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân Quận X nhận định Công ty T không lấn chiếm đất của Công ty M và xác định hành vi hành chính bị kiện không thuộc đối tượng khởi kiện và thuộc trường hợp trả lại đơn kiện do người khởi kiện không có quyền khởi kiện là không đúng quy định của pháp luật.

- Tại khoản 2 quyết định đình chỉ Tòa án nhân dân Quận X không ghi hậu

quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 144 của Luật tố tụng hành chính là vi phạm mẫu 14-HC theo Nghị quyết 02/2017/HĐTP-TANDTC ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

XÉT THẤY:

Về thủ tục tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 6012/QĐ-

VKS-HC ngày 21/10/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại khoản 2 Điều 206, khoản 2 Điều 213 của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ đơn khởi kiện thể hiện Công ty M khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân

dân phường N về hành vi không xử lý vi phạm hành chính đối với việc Công ty T đổ rác thải gây ô nhiễm môi trường trên đất thuộc quyền sử dụng của Công ty M. Tòa án nhân dân Quận X thụ lý và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với nhận định Công ty T không lấn chiếm đất của Công ty M đồng thời xác định hành vi hành chính bị kiện không thuộc đối tượng khởi kiện và thuộc trường hợp trả lại đơn kiện do người khởi kiện không có quyền khởi kiện là không đúng với nội dung khởi kiện, không đúng quy định tại khoản 3, 4 Điều 3; Điều 5; điều 115 của Luật tố tụng hành chính.

Trong nội dung quyết định đình chỉ Tòa án nhân dân Quận X không ghi

hậu quả của việc đình chỉ là không đúng với quy định của Nghị quyết 02/2017/HĐTP-TANDTC ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Như vậy, việc Tòa án nhân dân Quận X nhận định Công ty M khởi kiện

về hành vi không xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh là không thuộc đối tượng khởi kiện, người khởi kiện không có quyền khởi kiện và ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2021/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2021 là không đúng quy định pháp luật, đồng thời trong quyết định có thiếu sót không ghi hậu quả của việc đình chỉ nên nội dung kháng nghị là đúng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận của kháng nghị của Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định sơ thẩm,

chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận X Thành phố Hồ Chí Minh để

giải quyết lại vụ án theo quy định.

Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, hủy quyết định sơ thẩm và căn cứ

khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng hành chính chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân

dân Quận X Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết theo trình tự sơ

thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào khoản 1 Điều 31, Điều 243 của Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số

01/2021/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận X,

Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận X,

Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ