vanban.org

Bản án 65/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Ng cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ng phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HSST
Ngày 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Hương.

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Thị Tươi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/HSST ngày 30/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HS ngày 16/12/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Ng - Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1984 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Chức vụ đảng, đoàn thể: không; Con ông: Nguyễn Quang V - Sinh năm: 1952 và bà: Đỗ Thị H - Sinh năm: 1955 cùng trú tại khu , xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Vợ Nguyễn Thị Tuyết N - Sinh năm: 1984, hiện trú tại: Khu, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Trước khi bị bắt bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo Nguyễn Văn Ng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 03/11/2022, hiện bị cáo đang tại ngoại tại Khu , xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ - Có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Văn H – Sinh năm: 1999.

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH dịch vụ Thương mại Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức A - chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: Khu, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Đức A: Bà Nguyễn Thị Minh Ng - Sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai – Có mặt.

Những người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1965

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị X - Sinh năm: 1999.

Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Ng ký hợp đồng lái xe cho Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Đ, có địa chỉ tại Khu, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ từ ngày 15/3/2022. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31/3/2022, được sự điều động của công ty, Ng điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 19H-023.21 kéo theo rơ moóc BKS 19R-013.87 đi từ Khu Công nghiệp T tại T, tỉnh Phú Thọ đến mỏ đất L, huyện V, tỉnh Lào Cai để chở đất làm gạch. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đã chuyển đất lên xe, Ng điều khiển xe ô tô từ mỏ đất quay về theo đường tỉnh lộ 151 hướng P

- G để rẽ vào đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Ng điều khiển xe ô tô đi đến khu vực cầu Suối Cù thuộc thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai thì nhìn thấy ở bên phải theo hướng đi, phía bên kia cầu có biển“bơm nước mui” của gia đình ông Nguyễn Văn T. Lúc này, vì lo ngại lốp xe ô tô khi di chuyển trên cao tốc bị nổ nên Ng đỗ xe ở trước nhà ông Tư để đổ nước mui và tưới nước cho lốp xe. Khi đỗ xe, xe ô tô kéo theo rơ moóc do Ng điều khiển đỗ sát mép cầu, đầu xe quay hướng đi Gia Phú vượt qua cầu, đuôi xe hướng V, phần đuôi sơ mi rơ moóc nằm trên cầu Suối Cù là 03 mét (đo từ đuôi sơ mi rơ moóc đến mép đầu cầu về phía Gia Phú là 03 mét). Sau khi đỗ xe, Ng xuống xe kiểm tra lốp xe và gọi ông T ra bơm nước mui. Xuống xe ô tô được khoảng 2-3 phút, Ng thấy xe ô tô chỉ bật đèn pha nên đã quay lại cabin bật đèn cảnh báo nguy hiểm, gồm đèn chiếu hậu và đèn sườn hai bên. Sau khi bật đèn cảnh báo, Ng xuống xe rồi đứng ở sườn xe bên trái cầm điện thoại soi cho ông T bơm nước. Khi đó, anh Phạm Văn H điều khiển xe mô tô BKS 24B1-460.46 di chuyển trên đoạn đường theo hướng thị trấn Tằng Loỏng - Xuân Giao đi đến. Khi đến gần cầu Suối Cù cách xe ô tô do Ng điều khiển khoảng 30 mét, thì anh Huy quan sát thấy xe ô tô do Ng điều khiển cùng chiều phía trước ở trên cầu, nhưng nghĩ rằng xe ô tô đang di chuyển nên anh H tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng Xuân Giao với tốc độ khoảng 50 km/h. Khi xe mô tô do anh Huy điều khiển đi cách xe ô tô do Ng điều khiển khoảng 10 mét, anh Huy mới phát hiện ra xe ô tô đang đỗ trên cầu và có bật đèn cảnh báo nguy hiểm nên anh Huy đã phanh, giảm tốc độ của xe mô tô. Tuy nhiên do khoảng cách quá gần, anh H không kịp tránh nên đã đâm thẳng phần đầu xe mô tô vào giữa phần đuôi của rơ moóc biển kiểm soát 19R-013.87. Hậu quả, anh H bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai, xe mô tô BKS 24B1-460.46 bị hư hỏng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô, xe mô tô nêu trên và tạm giữ vật chứng liên quan đến vụ án để giải quyết theo quy định.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 208/TgT ngày 27/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đối với thương tích của Phạm Văn H, kết luận tại thời điểm giám định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 80%; Tại Kết luận định giá số 43/KL-HĐĐGTS ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng, kết luận: Tại thời điểm định giá tháng 11/2022, giá trị đối với một số thiết bị hư hỏng của xe mô tô Honda Airblade BKS 24B1-460.46 là 4.050.000 đồng. Bị cáo, bị hại đều nhất trí kết luận giám định, kết luận định giá không có ý kiến gì khác.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn Văn Ng là 0,00mg/l, kết quả xét nghiệm ma túy: Âm tính. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của Phạm Văn H là 41mg/dl vi phạm Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, Công an huyện Bảo Thắng lập hồ sơ xử phạm vi phạm hành chính đối với Phạm Văn Huy theo quy định;

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ng về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Mặc dù bị cáo có lỗi vô ý vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhưng phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi. Vì vậy xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, giao bị cáo cho UBND xã nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận về trách nhiệm dân sự; Bị hại đã nhận đủ 95.000.000 đồng tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Văn Ng 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn Văn Ng. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định, vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 31/3/2022 tại Km3 + 720m đường tỉnh lộ 151 thuộc thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai, Nguyễn Văn Ng điều khiển xe ô tô đỗ trên cầu Suối Cù là nơi không được phép dừng, đỗ xe nên đã vi phạm vào điểm c Khoản 4 Điều 18 Luật giao thông đường bộ “Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:...Trên cầu, gầm cầu vượt...”. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là do lỗi chủ quan của bị cáo khiến anh Phạm Văn H điều khiển xe mô tô BKS 24B1-460.46 đi cùng chiều phía sau đã đâm vào giữa phần đuôi của rơ móc biển kiểm soát 19R-013.87. Hậu quả anh H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 80% và gây thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô BKS 24B1-460.46 của anh Huy là 4.050.000 đồng.

Mặc dù Nguyễn Văn Ng có giấy phép lái xe theo quy định nhưng không tuân thủ đúng quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn, thiệt hại về sức khỏe và tài sản của bị hại. Do đó bị cáo Nguyễn Văn Ng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung“Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định. Sau khi gây tai nạn đã bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, hơn nữa trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu có nồng độ cồn là 41mg/dl nên không kịp thời quan sát phương tiện giao thông phía trước dẫn tới đâm vào xe ô tô đang dừng đỗ gây thương tích nặng cho bản thân. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định tại Khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố bị cáo là thương binh hạng 4/4. Do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Ng và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Đức Thành An đã tự thỏa thuận về trách nhiệm dân sự, công ty nhất trí hỗ trợ để bị cáo bồi thường cho anh Phạm Văn Huy số tiền là 95.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị hại và công ty không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tô, 01 xe mô tô và các giấy tờ liên quan. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe ô tô đầu kéo BKS 19H-023.21 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 19R-013.87 cho công ty TNHH dịch vụ và thương mại Đ, trả xe mô tô BKS 24B1-460.46 cho anh Phạm Văn Huy và các giấy tờ liên quan. Đến nay không ai có ý kiến gì về việc nhận lại tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo. Tuyên trả cho bị cáo giấy phép lái xe ô tô đang bị tạm giữ theo quy định.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Ng cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm Ng vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

2.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả 01 giấy phép lái xe ô tô số 250109002081 hạng FC mang tên Nguyễn Văn Ng do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 15/01/2018.

Giấy phép lái xe đã được cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2022.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi Ng vụ liên quan, vắng mặt bị hại. Bị cáo, người có quyền lợi Ng vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án;

Cỡ chữ