vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Anh D, Hoàng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Anh D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 06 tháng 6 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh Dũng - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lại Thị Kim Dung.

Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Anh D, sinh năm 1987; tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Hoàng Thị N; vợ: Nguyễn Thị Hồng H; con: Có 01 con, sinh năm 2018; tiền sự; tiền án: Không; tạm giữ ngày 06/6/2022, tạm giam ngày 12/6/2022; có mặt.

2. Hoàng Mạnh H, sinh năm 1987; tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Vũ Thị T; vợ: Hồ Thị N; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự; tiền án: Không; tạm giữ ngày 06/6/2022, tạm giam ngày 12/6/2022; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Thị N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Hoàng Quốc T, sinh năm 1982; anh Lại Văn T, sinh năm 1981; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 06/6/2022, Hoàng Văn D gọi điện thoại cho Hoàng Mạnh H nói: “Ông có một trăm không, góp vào đây đi làm quả hàng về chơi chơi” hiểu ý D rủ đi mua ma túy để cùng sử dụng, Hùng trả lời “tôi có, tôi đi xe qua đón ông rồi đi nhé” D nói: “Ừ” rồi tắt điện thoại. Khoảng 05 phút sau, H điều khiển xe mô tô BKS 90B2-967.63 đến nhà D. H đưa cho D 100.000đồng, D cầm tiền rồi ngồi lên xe H điều khiển chở đến một ngõ nhỏ của khu vực chợ Dầu thuộc xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, D nói với H: “Dừng xe, đứng đây đợi tôi”. D đi bộ vào trong ngõ thì gặp một người đàn ông không quen biết, D nói: “Anh có hàng không để cho em quả hai trăm”, người đàn ông đó nói: “Có, đưa tiền đây” D đưa 200.000đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa cho D một gói bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, D cầm rồi đi ra chỗ H đứng đợi và nói với H: “Hàng đây rồi, đi về thôi”. Khi về đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn Trung Hòa, xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong lòng bàn tay phải của Hoàng Anh D 01 chiếc gói giấy màu trắng có dòng kẻ và chữ, bên trong chứa chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, thu trong túi quần bên trái phía trước của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia niêm phong ký hiệu QT02. Thu trong túi quần phía trước của Hoàng Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus niêm phong ký hiệu QT03. Tạm giữ của Hoàng Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, đen, BKS 90B2-96763. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Anh D và Hoàng Mạnh H không phát hiện, thu giữ tài liệu đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 10/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục bên trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,261 gam, loại Heroine.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HDĐG ngày 24/6/2022 kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu xanh bạc đen, BKS 90B2-96763 có giá trị 10.000.000đồng.

Cáo trạng số 62/CT-VKSKB ngày 03/8/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Hoàng Anh D và Hoàng Mạnh H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Anh D và Hoàng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Anh D từ 18 tháng đến 21 tháng tù; xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày bắt tạm giữ 06/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 260/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu trắng hồng. Trả lại cho chị Hồ Thị N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh bạc, đen, BKS 90B2-96763, sau khi chị N phải nộp 5.000.00đồng để nộp ngân sách Nhà nước (1/2 giá trị của chiếc xe là tài sản của bi cáo H). Án phí các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận gì và đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Anh D và Hoàng Mạnh H đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/6/2022, Hoàng Anh D, sinh năm 1987 gọi điện thoại cho bị cáo Hoàng Mạnh H, sinh năm 1987 cùng ở thôn P, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam rủ H góp 100.000đồng để cả hai cùng đi mua ma túy về sử dụng. H đồng ý và điểu khiển xe mô tô BKS 90B2-96763 chở D đi mua 01 gói ma túy với giá 200.000đồng. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn Trung Hòa, xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang Hoàng Mạnh D đang tàng trữ trái phép gói ma túy có khối lượng 0,261gam loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo Hoàng Anh D, Hoàng Mạnh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cất giữ 0,261gam chất ma túy để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm trong xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo thấy: Bị cáo D là người khởi xướng rủ, góp tiền cùng với bị cáo H và trực tiếp đi mua ma túy về cùng sử dụng nên bị cáo D giữ vai trò chính, bị cáo H giữ vai trò đồng phạm.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Hùng có bố đẻ là thương binh, được Chủ tịch hội đồng nhà nước Căm Pu Chia tặng thưởng Huân chương bảo vệ tổ quốc, bị cáo D có ông nội là ông Hoàng Văn H được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến và có bà nội là bà Hoàng Thị L được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Từ phân tích trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ tội phạm của từng bị cáo thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cả hai bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 260/Kl-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Dũng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu trắng, hồng, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hùng tài sản hợp pháp của bị cáo H và bị cáo D, các bị cáo sử dụng liên lạc để đi mua trái phép chất ma túy về cùng sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade BKS 90B2-96763, qua tra cứu xe máy vật chứng không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và qua phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông đường bộ, chủ xe là Hoàng Mạnh H là tài sản hợp pháp của vợ chồng bị cáo H, đã được Hội đồng định giá tài sản định giá là 10.000.000đồng. Do chị Hồ Thị N là vợ của bị cáo H, không biết bị cáo đã sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội, chị Ngân xin được nhận lại chiếc xe để sử dụng nên trả lại cho chị N chiếc xe mô tô trên, sau khi chị N phải nộp 5.000.000đồng (Giá trị 1/2 chiếc xe là tài sản của bị cáo H) để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Các bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực Chợ Dầu thuộc xã Đội Bình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Do các bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người đàn ông bán ma tuý này nên cơ quan cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng không có căn cứ để xác minh làm rõ được.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 1, điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Anh D, Hoàng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 06 tháng 6 năm 2022.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H 15 (Mườ lăm) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 6 năm 2022.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 260/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus màu trắng, hồng, các máy đã qua sử dụng. Trả lại chị Hồ Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh đen, BKS 90B2-96763, số máy JF63E2513335, số khung 6324KZ098547, xe đã qua sử dụng. Sau khi chị N phải nộp 5.000.000đồng (Giá trị 1/2 chiếc xe là tài sản của bị cáo H) để nộp ngân sách Nhà nước (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng nêu trên như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kim Bảng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ngày 03/8/2022).

3. Án phí: Bị cáo Hoàng Anh D, Hoàng Mạnh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ