vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 và 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/8… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Quang Ha phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bọ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự lên một mức án tương xứng; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày 10-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phạm Ngọc Tuý;

2.Ông Nguyễn Văn Diệu.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022, đối với:

Bị cáo Nguyễn Quang H, sinh ngày 25/10/1985; nơi sinh: Huyện P, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình Csinh năm 1962 và bà: Lương Thị N sinh năm 1964; vợ: Đoàn Thị T sinh năm 1989; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/5/2022 cho đến nay.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Â, sinh năm 1959 (đã chết);

Đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995 (con gái bị hại);

Địa chỉ: Thôn Đồn Xá, xã Quỳnh Hồng, huyện P, tỉnh Thái Bình

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 1989 ; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện P, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, chị Nga và chị T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Quang H có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số AK427XXX do Sở Giao thông – Vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 11/5/2009. H và vợ là chị Đoàn Thị T cùng là công nhân Công ty V, tại xã H, huyện P. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/3/2022, hết giờ làm việc buổi sáng, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, biển số 17M5 – 8YYY, dung tích xi lanh 97cm3, chở chị T từ Công ty theo đường liên thôn xã H – T trên làn đường cơ giới bên phải chiều đi, để về nhà ở xã C. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường có nhiều người và phương tiện giao thông, H điều khiển xe đến khu vực đường liên xã H – T giao với đường liên thôn C1- C3, thuộc địa phận thôn C1, xã H, huyện P, là khu vực có biển báo nguy hiểm “giao với đường nhánh” và biển báo “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp vòng bên trái” nhưng H vẫn điều khiển xe đi với tốc độ trên 40km/h mà không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn. Cùng lúc này, bà Nguyễn Thị Â đi xe đạp trên đường liên thôn từ phải sang trái theo chiều đi của H ra đường liên xã H – T đang đứng ở vị trí giữa làn đường di chuyển của H. Thấy vậy, H bấm còi thì bà Âu ngập ngừng, chống chân trái xuống đường. H tiếp tục tăng ga điều khiển xe tránh sang làn đường bên trái chiều đi để vượt qua trước đầu xe của bà Âu nhưng bà Âu lại đạp xe đi tiếp. H vội vàng đạp phanh, nhưng do khoảng cách quá gần nên bánh xe phía trước của xe mô tô do H điều khiển đã va chạm với phần giữa khung phía bên trái xe đạp của bà Âu làm các phương tiện đổ rê về phía trước, nằm sát lề đường bên trái chiều di chuyển của H, hư hỏng nhẹ. H và chị T bị ngã, thương tích nhẹ; bà Âu bị ngã, chấn thương sọ não và đa chấn thương, chết hồi 15 giờ 55 phút cùng ngày.

Tại Bản kết luận giám pháp y về tử thi số 60/KL-KTHS (PY) ngày 08/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Nạn nhân Nguyễn Thị Â bị đa chấn thương vùng đầu và toàn thân do tai nạn giao thông, làm vỡ xương sọ vùng thái dương phải, chảy máu não; gãy 04 xương sườn bên trái; gãy xương đùi trái; chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương”.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà chị Nguyễn Thị N - đại diện hợp pháp cho bị hại khai: Chị không trực tiếp chứng kiến vụ tai nạn, sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã đến thăm hỏi động viên gia đình chị. Gia đình đã nhận đủ số tiền do bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường là 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng), chị không yêu cầu bị cáo pH bồi thường thêm khoản nào và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Thị T khai: Chị là vợ của bị cáo Nguyễn Quang H, chị xác nhận ngày 30/3/2022, chị có ngồi sau xe bị cáo điều khiển gây tai nạn, cả hai cùng không đội mũ bảo hiểm. Bản thân chị cũng bị thương tích nhẹ nhưng chị từ chồi giám định. Số tiền bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại chị không có ý kiến gì.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSQP ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Quang H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang H. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, và khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại về việc bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường xong. Về vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo 01 giấy phéo lái xe; Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Rất ân hận về hành vi mình đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ dẫn tới hậu quả làm chết 01 người, phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; bản kết luận giám định pháp y về tử thi; bản kết luận định giá tài sản cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Quang H có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 30/3/2022, tại khu vực ngã tư đường liên xã H – Tgiao với đường liên thôn C1 – C3, thuộc địa phận thôn C1, xã H, huyện P, tỉnh Thái Bình, H điều khiển xe mô tô biển số 17M5 – 8YYY, dung tích xi lanh 97cm3 chở vợ là chị Đoàn Thị T di chuyển trên đường liên xã H – An Thái, đã không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại an toàn, nên bánh trước xe mô tô của H điều khiển đã dâm vào phần giữa khung bên trái xe đạp do bà Nguyễn Thị Â điều khiển đi trên đường liên thôn C1– C3 ra đường liên xã H – T, làm hai phương tiện đổ rê trên đường, hư hỏng nhẹ; bà Âu bị ngã, bị đa chấn thương vùng đầu và toàn thân do tai nạn giao thông, làm vỡ xương sọ vùng thái dương phải, chảy máu não; gãy 04 xương sườn bên trái; gãy xương đùi trái, chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông – Vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người, thiệt hại về tài sản không đáng kể. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

“Điều 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ

1.Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

a) Làm chết người;

………

5.Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tai nạn giao thông là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, Nhà nước và địa phương thường xuyên tuyên truyền các quy định của Luật Giao thông đường bộ trên các phương tiện thông tin đại chúng, bị cáo điều khiển xe không chấp hành báo hiệu đường bộ, không tuân thủ quy định tốc độ, không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn nên xe bị cáo điều khiển va chạm với xe đạp của bà Nguyễn Thị Â điều khiển, dẫn đến hậu quả bà Âu tử vong, phương tiện tham gia giao thông bị hư hỏng nhẹ. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do lỗi của bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Sau khi phạm tội, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại có một phần lỗi đó là đã điều khiển xe đạp từ dường nhánh ra đường chính nhưng không nhường đường cho xe đi trên đường chính, do đó cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự lên một mức án tương xứng đối với bị cáo, cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo nói chung và phòng ngừa tội phạm nói riêng. Mức hình phạt áp dụng với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không có kính chiếu hậu, không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe tham gia giao thông, chở theo chị T cũng không đội mũ bảo hiểm, Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và chị T là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo pH bồi thường thêm bất cứ khoản nào nên cần ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại về việc bồi thường thiệt hại là phù hợp với cần áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự:

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, biển số 17M5 – 8YYY mà bị cáo điều khiển gây tai nạn là tài sản hợp pháp của bị cáo, chiếc xe đạp mini màu xanh là tài sản hợp pháp của và Â. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo và đại diện hợp pháp của bà Â là có căn cứ cần chấp nhận. Đối với 01 Giấy phép lái xe đã thu giữ của bị cáo, do không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề nên trả lại bị cáo Giấy phép lái xe là phù hợp..

Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 và 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/8/2022).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó pH chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại về việc bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường xong.

4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 Giấy phép lái xe số số AK427XXX do Sở Giao thông – Vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 11/5/2009 mang tên Nguyễn Quang H.

5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Quang H pH chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quang H và đại diện hợp pháp cho bị hại - Chị Nguyễn Thị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – chị Đoàn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ