vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 05/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hữu C cho Ủy ban nhân dân xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày: 05-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tuấn Trung

2. Bà Phan Thị Thu Trà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu C. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam.

Sinh ngày 21 tháng 10 năm 1985 tại huyện S, thành phố H;

Nơi cư trú: Đăng ký HKTT tại thôn X, xã B, huyên S, thành phố H.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hữu C1 (sinh năm 1964) và bà Lê Thị T (sinh năm 1966). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là chị Hoàng Thị Thu T2 (sinh năm 1985); Có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2008; Con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26/2022/HSST-CĐKNCT ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Chị Ngô Thị Mỹ L, sinh năm 1984 (đã chết)..

Người đại diện của người bị hại:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (mẹ đẻ của người bị hại)

Địa chỉ: tổ dân phố S, thị trấn G, huyện P, tỉnh T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964. Địa chỉ: tổ dân phố S, thị trấn G, huyện P, tỉnh T

- Ông Đỗ Văn H2g, sinh năm 1964. Địa chỉ: tổ dân phố S, thị trấn G, huyện P, tỉnh T

- Anh Lý Văn L, sinh năm 1981. Địa chỉ: xóm C, xã C, huyện P, tỉnh T.

Tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan: C ty TNHH Thương mại và vận tải N; địa chỉ: xã L, huyện Đ, Thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thùy Minh, chức vụ Phó Giám đốc C ty TNHH thương mại và vận tải Nhật Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn Huy, chức vụ: Điều xe, đơn vị: C ty TNHH Thương mại và vận tải Nhật Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 02-2021/UQ ngày 24/01/2022). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 28/12/2021, Nguyễn Hữu C (sinh năm 1985, trú tại: thôn Xuân Tàng, xã Bắc Phú, huyên Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 010175038140 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 11/01/2018, có giá trị đến 11/01/2028) điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-114.94 đi theo Quốc lộ 3 hướng Cao Bằng – Hà Nội. Đến Km 84 + 500m, đoạn thuộc địa phận TDP Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, C điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51 do chị Ngô Thị Mỹ L (sinh năm 1984, trú tại: TDP Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) đang dừng xe ở phần đường bên phải cùng chiều.

Hậu quả: Chị L bị tử vong trên đường đi cấp cứu, 02 phương tiện hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc Km 84 + 500m đường Quốc lộ 3, Hà Nội – Cao Bằng, thuộc TDP Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, mặt đường trải nhựa, phẳng, không bị che khuất tầm nhìn; giữa mặt đường có vết sơn kép kẻ liền màu vàng dọc theo chiều đường, lòng đường nhựa rộng 14m, phía bên trái đường hướng Cao Bằng – Hà Nội là khu chợ đồng mỏ.

Tại hiện trường khi Cơ quan điều tra đến khám nghiệm còn 01 (một) xe ô tô tải BKS: 29C – 114.94 và 01 (một) xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51

Lấy cột mốc Km 84 + 500m bên phải đường Hà Nội – Cao Bằng làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội làm điểm đo vuông góc để xác định vị trí các phương tiện, dấu vết để lại hiện trường vụ tai nạn, quá trình khám nghiệm xác định:

- Ký hiệu (1) là vết cà xước mặt đường màu trắng dạng đứt quãng, có chiều hướng Cao Bằng – Hà Nội, kích thước (5,6x0,01)m. Đo vuông góc từ điểm đầu, điểm cuối vết cà xước ra mép đường bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội lần lượt là 4,2m và 4,8m.

- Ký hiệu (2) là vết mài trượt mặt đường, màu đen, dạng liền, kích thước (2,0x0,05)m. Đo vuông góc từ điểm đầu, điểm cuối vết mài trượt mặt đường ra mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội lần lượt là 4,6m và 3,7m, đo điểm đầu vết thứ 2 về hướng Cao Bằng đến cuối vết thứ nhất là 6,8m.

- Ký hiệu (3) là vết mài trượt mặt đường có màu nâu, kích thước (6,2x0,02)m. Đo vuông góc từ điểm đầu của vết thứ 3 ra mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội là 2,7m. Đo từ đầu vết thứ 3 về hướng Cao Bằng đến cuối vết thứ 2 là 2,3m. Điểm cuối vết thứ 3 trùng với bánh xe phía sau bên phụ của xe ô tô BKS: 29C – 114.94. Đo vuông góc ra mép đường bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội là 1,9m.

- Ký hiệu (4) vết mài trượt màu đen kích thước (5,7x0,04)m chiều hướng Cao Bằng – Hà Nội; Đo vuông góc từ điểm đầu của vết thứ 4 ra mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội là 4,3m. Cuối vết thứ 4 trùng với bánh lốp xe phía sau bên lái của xe ô tô BKS: 29C – 114.94. Đo từ đầu của vết thứ 4 về phía Cao Bằng đến điểm đầu của vết thứ 3 là 0,6m.

- Ký hiệu (5) vết cà xước mặt đường màu trắng dạng đứt đoạn, kích thức (9,4x0,01)m. Đo vuông góc từ điểm đầu của vết thứ 5 ra mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội là 4,8m. Đo từ đầu vết thứ 5 về hướng Cao Bằng đến cuối vết thứ 4 là 0,9m. Điểm cuối vết cà xước trùng với đầu tay lái bên phải của xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51.

- Ký hiệu (6) xe ô tô tải BKS 29C – 114.94 do bị cáo Nguyễn Hữu C điều khiển đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Cao Bằng. Đo vuông góc tâm trục bánh trước, bánh sau bên phụ vào mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội lần lượt là 1,7m và 1,9m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên phụ xe ô tô tải BKS: 29C – 114.94 về hướng Hà Nội đến tâm trục bánh trước xe mô tô là 1,3m.

- Ký hiệu (7) vết cà xước mặt đường màu trắng dạng liền, kích thức (1,4x0,01)m. Đo vuông góc từ điểm đầu của vết ra mép đường nhựa bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội là 3,3m. Điểm cuối vết cà xước trùng với để chân sau bên phải của xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51.

- Ký hiệu (8) là xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51 nằm đổ nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Cao Bằng, đuôi xe quay hướng Hà Nội, nằm trước đầu xe ô tô tải BKS: 29C-114.94 phía bên lái. Đo vuông góc tâm trục bánh trước, bánh sau ra mép đường nhựa ben phải hướng Cao Bằng – Hà Nội lần lượt là 5,0m và 2,9m. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51 về hướng Cao Bằng đến tâm trục bánh trước bên phụ xe ô tô tải BKS: 29C – 114.94 là 3,1m.

Đo vuông góc từ đầu vết cà xước mặt đường (ký hiệu 1) về hướng Cao Bằng đến cột mốc Km 84 + 500 là 30,5m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Khám nghiệm xe ô tô tải: 29C-114.94

Về giấy tờ xe: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29028633 do Phòng Cảnh sát giao thông C an TP Hà Nội cấp ngày 13/4/2021; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EA 0217537 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 29-12D cấp ngày 16/10/2021 có giá trị đến hết ngày 15/04/2022; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 5368224 do C ty bảo hiểm Bảo Việt cấp ngày 08/10/2021.

Các dấu vết trên phương tiện:

+ Kính chắn gió phía trước bên phải của xe có vết dập vỡ kính kích thước (90x90) cm, có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải, tâm vết này cách đất 1,3m.

+ Mặt trước của mặt nạ bên phải xe, ngay dưới kính chắn gió phía trước bên phải có vết bẹp móp kim loại bong tróc sơn kích thước (40x20) cm, có chiều từ trước về sau, tâm vết này cách đất 1,1m.

+ Cụm đèn phía trước bên phải xe bị vỡ. Tại mép trêm của cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị đẩy gập kim loại, theo chiều từ trước về sau. Vết gập dài 7cm. Tiếp nối vết gập này tại thanh kim loại phía sau có vết mài trượt kim loại kích thước (1,5x2) cm, tâm vết này cách đất 92cm.

+ Tại mặt trước ba đờ sốc phía trước bên phải có vết trượt xước mài mòn nhựa màu đen kích thước (30x13) cm. Tại vùng trượt xước này có vết vợ nhựa kích thước (7x10) cm, có chiều từ trước về sau. Vết vỡ này bị đẩy về sau 0,5cm, tâm vết bày cách mép ngoài ben phải ba đờ sốc 20cm và tâm vết này cách mặt đất 60cm.

+ Thanh kim loại phía sau ba đờ sốc trước bên phải, dưới cụm đèn pha bên phải bị cong vênh đảy lùi từ trước về sau 8cm.

+ Mặt ngoài của thanh kim loại phía sau ba đờ sốc bên trái có vết trượt xước mài mòn kim loại kích thước (7x2,5) cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

+ Hệ thống phanh, còi còn hiệu lực.

+ Hệ thống đèn chiếu sáng, xi nhan bebn trái còn hiệu lực. Phía cụm đèn xi nhan chiếu sáng phía trước bên phải bị hư hỏng.

+ Các lốp còn đầy đủ hơi.

- Khám nghiệm xe mô tô BKS: 20E1 – 27651

Về giấy tờ xe: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe mát số 014269 do C an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 14/8/2017 mang tên Ngô Thị Mỹ L, địa chỉ: Giang Bình, Giang Tiên, Phú Lương.

Các dấu vết trên phương tiện:

+ Mặt trước đầu ngoài tay phanh bên phải có vết mài mòn kim loại kích thước (1,5x1,5) cm.

+ Mặt trước đầu năm tay lái bên phải có vết trượt xước kim loại kích thước (3x1) cm, tâm vết này cách mặt đất 98cm.

+ Mép ngoài cánh yếm bên phải bị trượt xước nhựa mài mòn, kích thước (53x2) cm, chiều từ sau về trước.

+ Đầu xe, cổ xe bị cong gập, đẩy lùi từ sau về trước.

+ Mép dưới đầu yên bên phải có vết mài rách da (vỏ yên xe) kích thước (3x4) cm.

+ Ốp nhựa phía dưới cánh yếm trái bị dập vỡ nhựa kích thước (10x13) cm, tâm vết này cách mặt đất 20cm.

+ Ốp nhựa dưới yên bên trái bị bật khỏi mấu chốt ban đầu, vết vỡ nhựa này kích thước dài 7cm.

+Tại má ngoài ốp sau đèn xi nhan bên trái có vết trượt xước nhựa bám dính vật chất dạng sơn màu trắng kích thước (10x4) cm, tâm vết này cách mặt đất 82cm.

+ Giảm sốc sau bên trái bị cong vênh, có chiều từ sau về trước.

+ Tại má ngoài của ốp nhựa bảo vệ ống xả bị trượt xước mài mòn nhựa kích thước (48x8) cm.

+ Ốp nhựa của tay xách xe phía sau bị bật rời khỏi vị trí để lộ khung tay xách phía bên trong.

+ Tại mặt ngoài phía sau bên trái của tay xách xe có vết trượt xước nhựa kích thước (7,5x0,5) cm, tâm vết này cách mặt đất 82cm.

+ Chắn bùn phái sau nơi treo biển kiểm soát bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, biển kiểm soát bị cong vênh.

+ Tại má ngoài bánh lốp phía sau cạnh dòng chữ SS-530R có vết mài trượt cao su, kich thước (40x6) cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

+ Hệ thống phanh, còi, đèn còn hiệu lực.

+ Các lốp còn hơi.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 207/KL-KTHS ngày 17/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Trật đốt sống cổ 3, 4. Gãy khung trước xương sườn từ số 1 đến số 8 bên phải và từ số 2 đến số 6 bên trái; gãy cung bên xương sườn từ số 5 đến số 7 bên phải, phổi phải và trái bị dập rách rải rác, trong khoang ngực chưa đầy máu không đông.

- Nguyên nhân chết: Ngô Thị Mỹ L, SN 1984, HKTT: Tổ dân phố Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên bị đa chấn thương: chấn thương chật cột sống cổ; chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, dập rách phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên kết luận:

- Giá trị thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51 là: 6.400.000đ (Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Giá trị thiệt hại tài sản của xe ô tô BKS: 29C – 114.94 là: 6.450.000đ (Sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số 46/CT-VKSPL ngày 23 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 24 -30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 – 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục.

- Về vật chứng: căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý theo pháp luật.

- Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại bị cáo Nguyễn Hữu C đã bồi thường xong cho gia đình chị Ngô Thị Mỹ L số tiền 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng). Đối với phần thiệt hại của xe ô tô BKS: 29C-11494 đại diện phía C ty TNHH Thương mại và vận tải Nhật Minh không đề nghị phía bị cáo Nguyễn Hữu C bồi thường.

- Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST; bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên toà vắng mặt đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan và người làm chứng. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa và những người này đã đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra, những người này không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng L quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt những người này tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những tham gia tố tụng này theo quy định tại điều 292, điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Bản ảnh vật chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan, và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:

Hồi 15 giờ ngày 28/12/2021, Nguyễn Hữu C (sinh năm 1985, trú tại: thôn Xuân Tàng, xã Bắc Phú, huyên Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 010175038140 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 11/01/2018, có giá trị đến 11/01/2028) điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-114.94 đi theo Quốc lộ 3 hướng Cao Bằng – Hà Nội. Đến Km 84 + 500m, đoạn thuộc địa phận TDP Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, do C điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 20E1 – 276.51 do chị Ngô Thị Mỹ L (sinh năm 1984, trú tại: TDP Giang Sơn, thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên) đang dừng xe ở phần đường bên phải cùng chiều. Hậu quả: Chị L bị tử vong trên đường đi cấp cứu, 02 phương tiện hư hỏng nhẹ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu C đã điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-114.94 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức đảm bảo quy định đã vi phạm khoản 23 Điều 8; Khoản 1, 2 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ, Điều 4, khoản 5 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải. Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

“23, Hành vi vi phạm quy tăc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Điều 12. Tốc độ và khoảng cách giữa các xe

“1, Người lái xe, ... phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình;…

2, Bộ trưởng bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện biển báo tốc độ trên các tuyến quốc lộ.”

Điều 4 và khoản 5 Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định:

Điều 4. Nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

“1. Khi tham gia giao thông trên đường bộ, người điều khiển phương tiện phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu giữa hai xe (thuộc chủng loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng) được ghi trên biển báo hiệu đường bộ.

2. Tại những đoạn đường không bố trí biển báo han chế tốc độ, không bố trí biển báo khoảng cách an toàn tối thiểu giữa hai xe, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải thực hiện theo các quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 11 của Thông tư này”.

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1, …

5, Qua khu vực … đông dân cư …”

Đối chiếu pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu C đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm:

a) Làm chết người”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân.

Nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

- Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 29C - 114.94 Cơ quan điều tra đã trả phương tiện trên cùng giấy tờ xe L quan cho chủ sở hữu quản lý và sử dụng.

- 01 đĩa CD-R lưu trữ đoạn video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông: Lưu hồ sơ vụ án.

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số 010175038140 ngày 11/01/2018 mang tên Nguyễn Hữu C.

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Bị cáo Nguyễn Hữu C đã bồi thường cho gia đình chị Ngô Thị Mỹ L số tiền 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng).

Đại diện C ty TNHH Thương mại và vận tải Nhật Minh đã nhận lại tài sản, xác định tự sửa chữa thiệt hại và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. HĐXX không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điều 65 BLHS; Điều 106, 135, 136, 292, 293, 299, 329, 331, 333 BLTTHS 2015; Luật phí, lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu C cho Ủy ban nhân dân xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Hữu C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Bắc Phú, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Hữu C thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Nguyễn Hữu C đã bồi thường xong cho gia đình chị Ngô Thị Mỹ L số tiền 210.000.000đ (hai trăm mười triệu đồng).

3. Biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số 010175038140 ngày 11/01/2018 mang tên Nguyễn Hữu C.

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo bản án: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan vắng mặt./.

Cỡ chữ