vanban.org

Bản án 65/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2022. Các biện pháp tƣ pháp: Truy thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Dƣơng Văn G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2022/HS-ST
Ngày 28-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trọng Khánh

Bà Lê Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Phƣơng Trang - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn G, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1998, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cƣ trú: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Đình T (đã chết) và bà Hứa Thị Ph; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, chƣa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2022, tạm giam từ ngày 13/8/2022 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Tàng Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Th, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Mã Văn K; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Trần Xuân H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 13 giờ 50 phút ngày 10/8/2022, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc làm nhiệm vụ tại khu vực khối x, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Dƣơng Văn G đang đứng một mình ở cạnh đƣờng có biểu hiện nghi vấn phạm tội, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thì Dƣơng Văn G vứt từ tay trái xuống đất 01 (một) gói nilon trong suốt màu trắng, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng. Tổ công tác đã yêu cầu Dƣơng Văn G nhặt lên, đồng thời Dƣơng Văn G khai nhận các cục chất bột màu trắng đựng trong gói nilon là ma túy Heroine, Dƣơng Văn G mua về mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, tổ công tác đã tiến hành đƣa ngƣời cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.

Vật chứng phát hiện, thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu trắng trong suốt có chứa các cục chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy; 01 (một) chiếc điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau ghi chữ OPPO, số IMEI 1: 865524030590072; IMEI 2: 865524030590064 cũ đã qua sử dụng; 01 (một) căn cƣớc công dân số 020098001233 mang tên Dƣơng Văn G.

Tại bản Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 13/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Phong bì ghi chữ “QUẢ TANG DƯƠNG VĂN G”. Các cục chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lƣợng 0,693 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Dƣơng Văn G khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy Heroine từ năm 2016, mỗi khi có nhu cầu Dƣơng Văn G thƣờng ra ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhờ những ngƣời lái xe ôm mua hộ từ 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đến 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và trả tiền công cho họ mỗi lần 50.000 đồng (năm mƣơi nghìn đồng). Do nhu cầu sử dụng ma túy ngày càng tăng, đến đầu tháng 8/2022 Dƣơng Văn G nảy sinh ý định mua ma túy về vừa sử dụng cho bản thân và bán lại cho ngƣời nghiện khác để kiếm lời. Khoảng 08 giờ ngày 10/8/2022, Dƣơng Văn G gọi điện thoại cho Tàng Văn T, sinh năm 1991, hộ khẩu thƣờng trú: Thôn Th, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để xin đi nhờ xe của Tàng Văn T ra khu vực ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tàng Văn T đồng ý rồi lấy xe máy chở Dƣơng Văn G ra ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khi đến nơi, Dƣơng Văn G xuống xe còn Tàng Văn T đi có việc riêng, sau đó Dƣơng Văn G đến gặp một ngƣời đàn ông lái xe ôm (không rõ tên tuổi địa chỉ) để nhờ hỏi mua ma túy, ngƣời này đồng ý rồi đèo Dƣơng Văn G đến khu vực xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn ngƣời đó bảo Dƣơng Văn G đứng đợi ở ngoài ngã tƣ Ph và một mình đi mua ma túy. Dƣơng Văn G đƣa cho ngƣời lái xe ôm 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để mua ma túy và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để trả công cho ngƣời này. Ngƣời lái xe ôm cầm tiền rồi đi mua ma túy ở đâu không rõ, khoảng 20 phút sau quay lại và đƣa cho Dƣơng Văn G 01 (một) túi ni lon trong suốt màu trắng chứa các cục chất bột ma túy Heroine, Dƣơng Văn G cầm gói ma túy rồi quay về ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để đợi Tàng Văn T đón về nhà. Đến khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, Tàng Văn T quay lại đón Dƣơng Văn G tại ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để đi về nhà, khi đi đến khu vực khối x, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì Tàng Văn T bảo Dƣơng Văn G xuống xe đợi Tàng Văn T đi có việc riêng. Sau đó Dƣơng Văn G bị lực lƣợng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt qua tang cùng với số ma túy vừa mua đƣợc.

Ngoài ra Dƣơng Văn G còn khai nhận đã đƣợc bán ma túy cho Mã Văn K, sinh năm 1998, hộ khẩu thƣờng trú: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng vào buổi chiều ngày 09/8/2022, tại khu vực gần nhà văn hóa Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tại cơ quan điều tra Mã Văn K cũng thừa nhận đƣợc mua ma túy với Dƣơng Văn G, lời khai của Dƣơng Văn G và Mã Văn K phù hợp với nhau.

Đối với những ngƣời đàn ông lái xe ôm đã mua ma túy hộ bị cáo Dƣơng Văn G, do bị cáo Dƣơng Văn G không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những ngƣời này, ngoài lời khai của bị cáo Dƣơng Văn G không còn tài liệu nào khác, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với Mã Văn K Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu về địa phƣơng để lập hồ sơ quản lý ngƣời nghiện theo quy định của pháp luật.

Đối với Tàng Văn T là ngƣời chở bị cáo Dƣơng Văn G từ nhà ra ngã tƣ thị trấn C, huyện C. Qua điều tra xác định Tàng Văn T không biết mục đích bị cáo Dƣơng Văn G đi nhờ xe ra khu vực ngã tƣ thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc để đi đâu, làm gì. Xét thấy Tàng Văn T không liên quan đến vụ án, nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKS-HS ngày 10/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Dƣơng Văn G về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Dƣơng Văn G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân nhƣ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo nhƣ Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Dƣơng Văn G từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù giam.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định đƣợc niêm phong trong 01 (một) phong bì. Trả lại cho bị cáo Dƣơng Văn G 01 (một) điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI 1: 865524030590072; IMEI 2: 865524030590064 cũ đã qua sử dụng và 01 (một) căn cƣớc công dân số 020098001233 mang tên Dƣơng Văn G.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản có giá trị nên đề nghị không phạt tiền bổ sung.

Truy thu đối với bị cáo Dƣơng Văn G 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nƣớc.

Bị cáo Dƣơng Văn G thuộc hộ nghèo và là ngƣời dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Tàng Văn T là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Mã Văn K là ngƣời làm chứng và ông Trần Xuân H là ngƣời chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến không ảnh hƣởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Dƣơng Văn G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 50 phút ngày 10/8/2022, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực khối x, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Dƣơng Văn G cầm trên tay trái 01 (một) gói ma túy Heroine, mục đích để sử dụng và bán cho những ngƣời nghiện. Trƣớc đó vào buổi chiều ngày 09/8/2022, tại khu vực gần nhà văn hóa Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn bị cáo Dƣơng Văn G đƣợc bán ma túy cho Mã Văn K 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn: Các cục chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lƣợng 0,693 gam. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Dƣơng Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Dƣơng Văn G thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng, việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nƣớc độc quyền quản lý, ma túy gây tổn hại về mặt kinh tế của gia đình và bản thân ngƣời sử dụng, gây hủy hoại sức khỏe của con ngƣời, suy giảm giống nòi dân tộc. Ma túy là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, an ninh chính trị tại địa phƣơng, gây nỗi bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, mọi hành vi vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo thuộc hộ nghèo và là ngƣời dân tộc sống tại vùng điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, nên đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính, chƣa bị xử lý kỷ luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng nhƣ phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Nhƣng xét thấy bị cáo không có tài sản, sống chung cùng gia đình là hộ nghèo, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy Heroine còn lại sau giám định là 0,660 gam đƣợc niêm phong trong 01 (một) phong bì, là chất cấm lƣu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI 1: 865524030590072; IMEI 2: 865524030590064 cũ đã qua sử dụng và 01 (một) căn cƣớc công dân số 020098001233 mang tên Dƣơng Văn G không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

Các biện pháp tƣ pháp: Đối với số tiền bị cáo Dƣơng Văn G bán ma túy Heroine cho Mã Văn K 01 (một) gói đƣợc 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), bị cáo Dƣơng Văn G đã tiêu cho cá nhân hết, xác định đây là số tiền do phạm tội mà có, nên cần truy thu số tiền này để nộp ngân sách nhà nƣớc.

Đối với những ngƣời đàn ông lái xe ôm đã mua ma túy hộ bị cáo Dƣơng Văn G, do bị cáo Dƣơng Văn G không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những ngƣời này, ngoài lời khai của bị cáo Dƣơng Văn G không còn tài liệu nào khác, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ, nên không có căn cứ xem xét.

Đối với Mã Văn K Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu về địa phƣơng nơi Mã Văn K cƣ trú để lập hồ sơ quản lý ngƣời nghiện theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Đối với Tàng Văn T là ngƣời chở bị cáo Dƣơng Văn G từ nhà ra ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Qua điều tra xác định Tàng Văn T không biết mục đích bị cáo Dƣơng Văn G đi nhờ xe ra khu vực ngã tƣ thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để đi đâu, làm gì. Xét thấy Tàng Văn T không liên quan đến vụ án, nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và một số nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên đƣợc chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Dƣơng Văn G thuộc hộ nghèo và là ngƣời dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có đơn xin miễn tiền án phí, nên bị cáo đƣợc miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn G phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2022.

3. Các biện pháp tƣ pháp: Truy thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Dƣơng Văn G.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi chữ "QUẢ TANG DƢƠNG VĂN G) "cũ", có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) túi nilon (cũ) đựng 0,660 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết).

- Trả lại cho bị cáo Dƣơng Văn G 01 (một) điện thoại di động màu vàng đồng, mặt sau có chữ OPPO, số IMEI 1: 865524030590072; IMEI 2: 865524030590064 cũ đã qua sử dụng và 01 (một) căn cƣớc công dân số 020098001233 mang tên Dƣơng Văn G.

(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

5. Về án phí: Bị cáo Dƣơng Văn G đƣợc miễn 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao nhận bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ