- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Bích N .
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH A Bản án số: 65/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 6 - 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Hân E.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn H.
2. Ông Nguyễn Thành P.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Dáng H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2022/TLST-HNGĐ ngày 25/02/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Hồ Thị Bích N , sinh năm 1984. (Có mặt).
Địa chỉ: tổ 3, ấp H, xã H, huyện C , tỉnh A .
2. Bị đơn: ông Cao Công M , sinh năm 1991. (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp V, xã V , huyện T , tỉnh A .
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hồ Thị K , sinh năm 1965 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 3, ấp H, xã H, huyện C , tỉnh A .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 08/4/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị Bích N trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà N với ông Cao Công M tiến đến hôn nhân vào năm 2019, không tổ chức lễ cưới và cũng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, bà N và ông M chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Hồ Ngọc P , sinh ngày 18/6/2020. Tuy nhiên, đến năm 2020 thì hai người phát sinh mâu thuẫn, do ông M không quan tâm đến gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, tham gia cờ bạc. Mọi công việc trong gia đình đều do bà N gánh vác, từ đó dẫn đến bất đồng ý kiến, không tôn trọng nhau. Mặc dù bà N đã nhiều lần góp ý nhưng ông M không thay đổi nên bà N và ông M ly thân từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Quá trình chung sống, bà N và ông M có thiếu bà Hồ Thị K 44.000.000 đồng nhưng bà N và bà K tự thỏa thuận số nợ này, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay mâu thuẫn vợ chồng gay gắt nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Cao Công M .
- Về con chung: có 01 con chung tên Hồ Ngọc P , sinh ngày 18/6/2020. Cháu P đang sống chung với bà N nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Tại đơn khởi kiện, bà N yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, bà N rút lại yêu cầu này, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: tự thỏa thuận.
Bị đơn ông Cao Công M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị K trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2022: bà K là người ở cùng xóm với vợ chồng chị Hồ Thị Bích N và anh Cao Công M . Vào khoảng năm 2020, bà thấy hoàn cảnh gia đình của anh M , chị N rất khó khăn nên bà cho vợ chồng anh M , chị N mượn tiền nhiều lần (mỗi lần khoảng 05 triệu đến 06 triệu đồng), tổng số tiền vợ chồng anh M , chị N mượn của bà là 44.000.000 đồng (bốn mươi bốn triệu đồng) nhưng khi mượn tiền không có làm giấy tờ gì. Nay bà K và chị N tự thỏa thuận số nợ này, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà K bận việc gia đình nên bà xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất và tại các phiên tòa xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn ông Cao Công M được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên tòa nên đã từ bỏ quyền của mình.
- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 14, 53, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hồ Thị Bích N và ông Cao Công M .
+ Về quan hệ con chung: giao cháu Hồ Ngọc P , sinh ngày 18/6/2020 cho bà N chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không buộc ông M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.
+ Bà N yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn ông Cao Công M có địa chỉ tại ấp V, xã V , huyện T , tỉnh A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Cao Công M đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập, ông M đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông M theo thủ tục chung.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đúng với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: bà Hồ Thị Bích N và ông Cao Công M tìm hiểu, tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2019 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, bà N và ông M chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì giữa hai người phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Do mâu thuẫn trầm trọng nên bà N yêu cầu ly hôn với ông M.
Qua xác minh tại Công an xã Vĩnh Trạch, huyện T , tỉnh A thì ông Cao Công M có đăng ký hộ khẩu tại ấp V, xã V , huyện T , tỉnh A nhưng vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về và cũng không rõ địa chỉ nơi cư trú mới nên Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nêu trên. Tuy nhiên, ông M không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với bà N.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông M đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không có giá trị về mặt pháp lý.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Bà N yêu cầu ly hôn với ông M, nhưng giữa hai người không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hồ Thị Bích N và ông Cao Công M .
Về quan hệ con chung: bà N và ông M có 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc P , sinh ngày 18/6/2020. Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P. Xét thấy, cháu P dưới 36 tháng tuổi, đang được bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy, để ổn định cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của cháu P, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N; giao cháu Hồ Ngọc P ho bà N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện, bà N yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà N rút lại yêu cầu này. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Nợ chung: bà Hồ Thị Bích N và bà Hồ Thị K tự thỏa thuận về nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: bà Hồ Thị Bích N yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Bích N .
1.1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hồ Thị Bích N và ông Cao Công M .
1.2. Về quan hệ con chung: bà N và ông M có 01 (một) con chung tên Hồ Ngọc P , sinh ngày 18/6/2020.
- Giao cháu Hồ Ngọc P ho bà Hồ Thị Bích N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu P đang sống chung với bà N). Bà N không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Bà Hồ Thị Bích N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Cao Công M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: không có.
1.4. Về nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Hồ Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0008953 ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (bà N đã nộp xong).
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh A ; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Các đương sự (Để thi hành); - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hân E |