- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Tiến Tr phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2021/HSST Ngày 27/7/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bảy, chức vụ: Cán bộ hưu trí phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai;
Ông Đặng Văn Tân, chức vụ: Cán bộ UBMTTQ thị xã Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa: ông Cao Trọng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2021, tại phòng xử án - trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2021/TLST-HS ngày 01/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2021/QĐXXST-HS ngày15/7/2021, đối với bị cáo:
Lê Tiến Tr, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2003, tại huyện Q. L (nay là thị xã H.M), tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: khối L, phường Q.X, thị xã H. M, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Lê Tiến Kh, sinh năm 1979; con bà: Nguyễn Thị Vt, sinh năm 1981; vợ: chưa có; con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: ngày 29/4/2020, bị Công an xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/4/2020; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2021, có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Lê Thị A, sinh ngày 24/9/2003
Nơi cư trú: khối L, phường Q. X, thị xã H. M, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
Đại diện theo pháp luật: ông Lê Hữu Th, sinh năm 1977 (bố đẻ chị A)
Nơi cư trú: khối L, phường Q. X, thị xã H. M, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
2. Ông Lê Hữu Th, sinh năm 1977
Nơi cư trú: khối L, phường Q. X, thị xã H. M, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
* Ngƣời làm chứng:
Bà Hồ Thị L, sinh năm 1973
Nơi cư trú: khối L, phường Q. X, thị xã H. M, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 29/5/2021, tại khu vực đoạn đường Quốc lộ 1A (thuộc khối 12, phường Quỳnh Xuân, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An), Lê Tiến Tr đang thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,23g (không phẩy hai mươi ba gam) ma túy (loại Methamphetamine) với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị xã Hoàng Mai phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 813/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 03/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu vật thu giữ của Lê Tiến Tr gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Tiến Tr có khối lượng là 0,23g (không phẩy hai mươi ba gam).
Cáo trạng số 62/CT-VKSHM ngày 28/6/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố Lê Tiến Tr về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố: bị cáo Lê Tiến Tr phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt Lê Tiến Tr từ 15 đến 18 tháng tù và không phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Tiến Tr.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
+ 0,23 g (không phẩy hai mươi ba gam) ma túy (Methamphetamine), đã lấy mẫu gửi đi giám định toàn bộ, không còn để xử lý;
+ 01 (một) đoạn ống nhựa dạng ống hút màu xanh, đang được niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imel: 353408/04/659604/3, bên trong có gắn 01 sim điện thoại có số thuê bao 0384.998.703, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Tiến Tr, do không chứng minh được Lê Tiến Tr đã sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại bị cáo Tr;
+ Chiếc Môtô biển kiểm soát 37L1-118.83 thu giữ của Lê Tiến Tr, là tài sản thuộc sở hữu của anh Lê Hữu Th, chị Lê Thị A cho Lê Tiến Tr mượn nhưng không ai biết bị cáo Tr sẽ sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đã trả tài sản này cho anh Th là phù hợp quy định pháp luật.
- Về án phí: buộc Lê Tiến Tr phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cán bộ điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và các hành vi tố tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến Tr hoàn toàn thừa nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng số 62/CT-VKSHM ngày 28/6/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố, thừa nhận Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai truy tố và buộc tội bị cáo về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai. Lời khai đó của Lê Tiến Tr hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, với vật chứng vụ án là 0,23 g (không phẩy hai mươi ba gam) ma túy (loại Methamphetamine) thu giữ được của Lê Tiến Tr; phù hợp với các bản cung có tại hồ sơ vụ án, với thời gian, địa điểm Lê Tiến Tr thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, với Kết luận giám định 813/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 03/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 18 giờ ngày 29/5/2021, tại Quốc lộ 1A (thuộc khối 12, phường Quỳnh Xuân, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An), Lê Tiến Tr đang thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,23g (không phẩy hai mươi ba gam) ma túy (loại Methamphetamine) với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị xã Hoàng Mai phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai truy tố Lê Tiến Tr về “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện tội phạm, Lê Tiến Tr có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật đặc biệt nghiêm cấm, nhưng do muốn có ma túy sử dụng nên vẫn thực hiện tội phạm. Hành vi đó của Lê Tiến Tr đã xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình, làm băng hoại các giá trị đạo đức xã hội, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma túy và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe con người, nòi giống dân tộc, bị công luận lên án, trong khi tội phạm buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy đang diễn biến phức tạp tại địa bàn thị xã Hoàng Mai. Vì vậy, cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Tiến Tr và xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo Trang nhằm giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa vi phạm pháp luật nói chung, tội phạm về ma túy nói riêng.
Lê Tiến Tr phạm tội không có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị công an xử lý hành chính; có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Tr phạm tội khi mới tròn 18 tuổi, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam.
Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của Lê Tiến Tr, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trên cơ sở yêu cầu đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy, tệ nạn sử dụng ma túy đang gia tăng và diễn biến phức tạp tại địa bàn thị xã Hoàng Mai và yêu cầu cảm hóa người phạm tội, nhất là đối với người nghiện ma túy, cần áp dụng hình phạt tù đối với Lê Tiến Tr với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và cách ly bị cáo Tr ra khỏi xã hội trong thời gian chấp hành hình phạt tù; không phạt bổ sung đối với Lê Tiến Tr, do bị cáo phạm tội nhưng không có thu lợi bất chính, hoàn cảnh khó khăn.
Lê Tiến Tr khai số ma túy trên bị cáo mua của một nam thanh niên nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên không có cơ sở xử lý.
Người đàn ông tên L mà bị cáo Tr khai đã gọi điện thoại để mua số ma túy trên, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được danh tính người này, nên không có cơ sở xử lý.
Chị Ánh cho Lê Tiến Tr mượn mô tô, không biết bị cáo Tr sẽ sử dụng vào việc phạm tội, nên chị A không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
+ Số ma túy thu giữ của Lê Tiến Tr (0,23g Methamphetamine), đã gửi đi giám định toàn bộ, không còn để xử lý;
+ 01 (một) đoạn ống nhựa dạng ống hút màu xanh thu giữ của Lê Tiến Tr đang được niêm phong, cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imel: 353408/04/659604/3, bên trong có gắn 01 sim điện thoại có số thuê bao 0384.998.703, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Tiến Tr, do không chứng minh được Lê Tiến Tr đã sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại bị cáo Tr.
+ Chiếc Mô tô biển kiểm soát 37L1-118.83, số khung: D61Y-02699, số máy: HWM-00002699 thu giữ của Lê Tiến Tr, là tài sản thuộc sở hữu của anh Lê Hữu Th, chị Lê Thị A cho Lê Tiến Tr mượn nhưng không ai biết bị cáo Tr sẽ sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Điều tra Công an thị xã Hoàng Mai trả tài sản này cho anh Th là phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: buộc Lê Tiến Tr phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: bị cáo Lê Tiến Tr phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Lê Tiến Tr 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (29/5/2021).
- Vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống nhựa dạng ống hút màu xanh cùng phong bì thư đang được niêm phong.
+ Trả lại bị cáo Lê Tiến Tr 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imel: 353408/04/659604/3, bên trong có gắn 01 sim điện thoại có số thuê bao 0384.998.703, đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai quản lý, theo biên bản giao nhận ngày 01/7/2021 giữa Công an thị xã Hoàng Mai với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: buộc bị cáo Lê Tiến Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo Tr được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Những người liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thị xã Hoàng Mai; - Chi cục THADS T.X Hoàng Mai; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Ngọc Tiếp |