- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phú T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố các bị cáo Lê Phú T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2021/HSST Ngày 27 - 4 - 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị An
2. Ông Ngô Đăng D
- Thƣ ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Chiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 27/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2021/TLST-HS ngày 8 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Phú T, sinh năm 1973 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã TX, huyện ĐA, Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 4/12; Con ông: Lê Phú C và bà Lê Thị L; có vợ là chị Hoàng Thị L, có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2000; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 3022372/PV06 ngày 8/02/2021 của Công an thành phố Hà Nội và lý lịch bị can thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2020 đến ngày 07/01/2021 được Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h30’ ngày 28/12/2020, tổ công tác Công an xã TD làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại thôn CD, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội phát hiện bị cáo Lê Phú T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS: 30H4-8875 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, khám người theo thủ tục hành chính đối với T phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của T có 01 gói bằng tiền giấy mệnh giá 500 đồng, màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu đen T khai là ma túy. Khám phương tiện vận tải theo thủ tục hành chính đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS 30H4-8875 không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Lê Phú T về trụ sở để tiếp tục đấu tranh làm rõ.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Phú T tại thôn Đ, TX, ĐA, Hà Nội không thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã quyết định trưng cầu giám định đối với tinh thể màu đen thu giữ của Lê Phú T. Ngày 05/01/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội có bản kết luận giám định số 118/KLGĐ-PC09 kết luận: Tinh thể màu đen bên trong 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 500 đồng màu đỏ là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,119 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Phú T khai nhận: Vào chiều ngày 22/12/2020, T đang đi bộ tại khu vực cổng thôn Đ, TX, ĐA, Hà Nội thì gặp bạn xã hội tên “Trung”. Trong lúc nói chuyện, Trung rủ T cùng sử dụng ma túy “đá” và lấy từ trong người ra một túi ma túy “đá” màu đen cho T xem. T thấy vậy nên hỏi xin Trung một ít ma túy “đá”, Trung đồng ý. Sau đó T sử dụng tờ tiền mệnh giá 500 đồng màu đỏ gói số ma túy xin được của Trung rồi cất vào trong người và đi về nhà sử dụng hết một phần.
Đến khoảng 12h30’ ngày 28/12/2020, do có hẹn trước với một người bạn xã hội tên là Nhung nên T một mình điều khiển xe máy BKS: 30H4-8875 đi một mình từ nhà đến khu vực nhà nghỉ T Vũ (Địa chỉ: Thôn CD, xã TD, huyện ĐA, Hà Nội). Khi đi đến khu vực của nhà nghỉ T Vũ thì T bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Mục đích T xin Trung số ma túy trên để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Việc T cất giấu, tàng trữ số ma túy trên thì chỉ có mình T biết, ngoài ra không còn ai khác biết.
Đối với người đàn ông tên “Trung” mà T xin ma tuý và người phụ nữ tên “Nhung” hẹn gặp T vào ngày 28/12/2020 tại nhà nghỉ T Vũ, T khai không biết rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể của những người này. Ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS: 30H4-8875 đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc D (Địa chỉ: 10 ngõ Văn Chỉ, Bạch Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội). T khai: Đây là chiếc xe máy của T mua ở cửa hàng xe máy Giang Sơn ở đường Cao Lỗ, xã Uy Nỗ, huyện ĐA, TP Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy BKS 30H4-8875 có nguồn gốc không rõ ràng, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSĐA ngày 06/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyết định truy tố bị cáo Lê Phú T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Phú T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Lê Phú T từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo T vì bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,086 gam ma túy Methamphetamine (Phòng PC09 đã trích mẫu giám định 0,033 gam); Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng đựng trong 01 phong bì niêm phong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2020, tại khu vực thôn CD, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, Lê Phú T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,119 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng, bị phát hiện bắt giữ.
Như vậy hành vi của bị cáo Lê Phú T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) …Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó đối với người sử dụng và cộng đồng, chính vì vậy mà Nhà nước và cả xã hội ra sức đấu tranh, bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do nghiện ma túy nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhằm hạn chế các loại tội phạm.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung như mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là thỏa đáng.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là con nghiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,086 gam ma túy Methamphetamine (Phòng PC09 đã trích mẫu giám định 0,033 gam) cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng đựng trong 01 phong bì niêm phong.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố các bị cáo Lê Phú T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Phú T 12 (mƣời hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/12/2020 đến ngày 07/01/2021.
* Căn cứ Điều 47, Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng đựng trong 01 phong bì niêm phong.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,086 gam ma túy Methamphetamine (Phòng PC09 đã trích mẫu giám định 0,033 gam);
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/4/2021 giữa Công an huyện ĐA và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).
Bị cáo Lê Phú T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 27/4/2021./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện ĐA; - Công an huyện ĐA; - Chi cục THADS huyện ĐA; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - UBND xã TX; - Lưu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Trực |