vanban.org

Bản án 65/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội dAh: Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TU
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2021/HS-ST
Ngày: 06-5-2021

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH B DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Ah.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L1 số: 53/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2021/QĐST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lê Quốc V, sinh năm 1968 tại tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp K1, xã G, thị xã B1, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Tổ 8, Khu phố T, phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1943 (đã chết) và bà Nguyễn Kim B, sinh năm 1947; bị cáo có 06 anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1962, nhỏ nhất sinh năm 1972; có vợ tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1974 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2001. Tiền sự: Ngày 17/7/2020 Công A phường F, thị xã TU, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tiền án: Không. Ngày 11/8/2020 Th hiện hành vi đánh bạc; ngày 18/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên toà.

2. Hà Quốc B, sinh năm 1976 tại tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam; nơi thường trú: Thôn X, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ; tạm trú: Tổ 8, Khu phố T, phường F, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông Hà Hữu A, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Lê Thị Th, sinh năm 1944; bị cáo có 04 chị, em, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1985; có vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1977; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005. Tiền sự: Ngày 17/7/2020 Công A phường F, thị xã TU, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tiền án: Không. Ngày 11/8/2020 Th hiện hành vi đánh bạc; ngày 18/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn M, sinh năm 1964 tại tỉnh A GiAg; giới tính: Nam; quê quán: Ấp RA, xã Khánh H1, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không; tạm trú: Khu phố T, phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: Lớp 7/12; con ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Đinh Thị S, sinh năm 1939; bị cáo có 04 Ah, chị, em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1975; có vợ tên Lê Thị L1, sinh năm 1970 (đã ly hôn); bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền sự: Ngày 17/7/2020 Công an phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tiền án: Không. Ngày 11/8/2020 Th hiện hành vi đánh bạc; ngày 18/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Văn H, sinh năm 1967 tại tỉnh Bến Tre; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp H, xã P1, huyện D, tỉnh An Giang; tạm trú: Khu phố T, phường F, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Trần Văn T2, sinh năm 1929 và bà Lê Thị T3, sinh năm 1931 (đã chết); bị cáo có 04 anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1969; có vợ tên Trần Thị Hết, sinh năm 1969; bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2000. Tiền sự: Ngày 17/7/2020 Công an phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tiền án: Không. Ngày 11/8/2020 Th hiện hành vi đánh bạc; ngày 18/11/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA đến vụ án: Ông Đinh Hoàng L, sinh năm 1962; thường trú: Ấp K, xã I, huyện P1, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Nhà trọ Út B1, đường ĐB8, Khu phố 8, phường P1, thành phố M, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Hà Văn H1, có mặt.

2. Ông Nguyễn Thắng T, yêu cầu xét xử vắng mặt.

3. Bà Trần Thị Tr, vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét h i, trAh lu n tại phiên toà, nội D vụ án được tóm t t như sau:

Các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Trần Văn H, Hà Quốc B và ông Đinh Hoàng L là bạn với nhau. Các bị cáo V, M, H và B đều là nhân viên bảo vệ của Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ MN Việt Nam có địa chỉ tại Khu dân cư Đông A, phường Đ1, thành phố A1, tỉnh B Dương. Các bị cáo M, H và B được giao nhiệm vụ bảo vệ tại Công ty WAg Feng, bị cáo V được giao nhiệm vụ bảo vệ tại Công ty LP đều thuộc phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương. Bị cáo V là bảo vệ của công ty LP, thuộc phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương. Ông Đinh Hoàng L là công nhân thuộc tổ bảo trì của Công ty WAg Feng. Ngày 15/7/2020, các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Trần Văn H và Hà Quốc B thực hiện hành vi đánh bạc và bị Công an phường F xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc mỗi người số tiền là 1.500.000 đồng.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/8/2020, sau khi hết ca trực, bị cáo Lê Quốc V đi từ công ty LP về phòng trọ. Trên đường về bị cáo V thấy các bị cáo M, H và B đang trực tại phòng bảo vệ của công ty WAg Feng nên bị cáo V vào chơi. Trong lúc nói chuyện, bị cáo V đề xuất chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền thì các bị cáo M, H và B đồng ý. Bị cáo V lấy 01 bộ bài Tây 52 lá có sẵn ở phòng bảo vệ và cùng với các bị cáo M, H và B chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược 50.000.000 đồng, mỗi người luân phiên nhau làm cái 03 ván. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, ông Đinh Hoàng L đi từ trong xưởng của công ty WAg Feng ra phòng bảo vệ thì thấy các bị cáo V, M, H và B đang Th hiện hành vi đánh bạc nên cùng tham gia.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công A phường F, thị xã TU nhận được tin báo nên tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Trần Văn H, Hà Văn B và ông Đinh Hoàng L, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công A thị xã TU để thụ L1 theo thẩm quyền.

Cáo trạng số 60/CT-VKS.TU ngày 30/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V, Hà Quốc B, Nguyễn Văn M và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

+ Bị cáo Lê Quốc V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

+ Bị cáo Hà Quốc B từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

+ Bị cáo Nguyễn Văn M từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

+ Bị cáo Trần Văn H từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

- Về xử L1 vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 4.100.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo và ông Đinh Hoàng L đã sử dụng vào việc đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây 52 lá.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Quốc V số tiền 7.800.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Quốc V trình bày: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/8/2020, sau khi hết ca trực, bị cáo Lê Quốc V đi từ công ty LPvề phòng trọ. Trên đường về bị cáo V thấy các bị cáo M, H và B đang ở phòng bảo vệ của công ty WAg Feng nên bị cáo V vào chơi. Trong lúc nói chuyện, bị cáo V đề xuất chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền thì các bị cáo M, H và B đồng ý. Bị cáo V lấy 01 bộ bài Tây 52 lá có sẵn ở phòng bảo vệ và cùng với các bị cáo M, H và B chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược 50.000.000 đồng, mỗi người luân phiên nhau làm cái 03 ván. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, ông Đinh Hoàng L đi từ trong xưởng của công ty WAg Feng ra phòng bảo vệ thì thấy các bị cáo V, M, H và B đang thực hiện hành vi đánh bạc nên cùng tham gia. Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo số tiền 8.600.000 đồng nhưng chỉ lấy ra số tiền 800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị cáo thua 150.000 đồng, Công an thu giữ của bị cáo số tiền 650.000 đồng tại chiếu bạc và trong người bị cáo số tiền 7.800.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận hành vi phạm tội như nội D cáo trạng truy tố và trình bày: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo mang theo 800.000 đồng và sử dụng toàn bộ vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo thắng 150.000 đồng, Công an thu giữ của bị cáo số tiền 950.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Quốc B thừa nhận hành vi phạm tội như nội D cáo trạng truy tố và trình bày: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo mang theo số tiền 1.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang bị cáo không thắng không thua, Công an thu giữ của bị cáo số tiền 1.200.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội D cáo trạng truy tố và trình bày: Khi tham gia đánh bạc, bị cáo mang theo số tiền 300.000 đồng và sử dụng T bộ vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, bị cáo không thắng không thua, Công an thu giữ của bị cáo số tiền 300.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Đinh Hoàng L khai: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11/8/2020, ông Đinh Hoàng L đi từ trong xưởng của công ty WAg Feng ra phòng bảo vệ thì thấy các bị cáo V, M, H và B đAg Th hiện hành vi đánh bạc nên cùng tham gia chơi. Khi đánh bạc, ông L mang theo số tiền 1.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, ông L không thắng không thua, Công an thu giữ số tiền 1.000.000 đồng ông để tại chiếu bạc.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã nhận thấy hành vi của bản thân phạm tội, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị cáo là đúng thẩm quyền.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội D cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công A phường F, thị xã TU lập ngày 12/8/2020 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11/8/2020, tại phòng bảo vệ của công ty WAg Feng thuộc phường F, thị xã TU, tỉnh B Dương các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B, Trần Văn H và ông Đinh Hoàng L đã Th hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Bài binh” 06 lá. Tổng số tiền các bị cáo và ông Đinh Hoàng L sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.100.000 đồng.

Trong đó các bị cáo Lê Quốc V, Hà Quốc B, Nguyễn Văn M và Trần Văn H đã thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 17/7/2020 và bị Công A phường F, thị xã TU, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính mỗi bị cáo số tiền 1.500.000 đồng.

Khi Th hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 231 của Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Đinh Hoàng L chưa có tiền án, tiền sự và tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không phạm tội đánh bạc.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Lê Quốc V phạm tội với vai trò đề xuất và Th hành tích cực, các bị cáo khác phạm tội với vai trò đồng phạm Th hành tích cực. Do đó, bị cáo Lê Quốc V phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Các bị cáo đều có tiền sự về hành vi đánh bạc. Căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.

Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với vai trò của từng bị cáo, đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử L1 vật chứng: Căn cứ vào các Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Đối với số tiền 4.100.000 đồng thu giữ của các bị cáo và ông Đinh Hoàng L được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 7.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Quốc V không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Các điều 38, 46, 47 và 65; các điểm i và s, khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội dAh: Tuyên bố các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc V 09 (Chín) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Quốc B 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B, Trần Văn H và ông Đinh Hoàng L sử dụng vào việc đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài Tây 52 lá.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Quốc V số tiền 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) không sử dụng vào việc đánh bạc.

(Theo Biên bản giao, nh n v t chứng ngày 19/4/2021 giữa Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A thị xã TU và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TU).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Quốc V, Nguyễn Văn M, Hà Quốc B và Trần Văn H mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ