vanban.org

Bản án 65/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Nguyễn Bá K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 21-6-2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KXC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 65/2021/HS-ST
Ngày: 14 - 9 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KXC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Hảo;

2. Ông Huỳnh Mộc Khải.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố KXC, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố KXC, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố KXC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá K, sinh năm 1997, tại: thị xã A, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp 2xx, thị xã A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phương H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1972; anh chị em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-6-2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Giang Thị T, sinh năm 1957; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 06-5-2021, lực lượng phối hợp Công an thành phố KXC và Công an phường SN, thành phố KXC trên đường tuần tra, đến khu vực tổ 19, khóm Vĩnh Đông, phường SN phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Bá K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 09 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng –hồng - vàng hàn kín; 01 đoạn ống nhựa vàng, sọc trắng hàn kín chứa chất bột trắng và tinh thể rắn trắng. K khai ma túy đá và Heroin mua của người tên Phúc (không rõ lai lịch, tại khóm 3, phường Châu Phú A, thành phố KXC) giá 550.000 đồng, cất giấu để sử dụng dần. Vật chứng thu giữ: 09 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng - hồng – vàng, hàn kín; 01 đoạn ống nhựa vàng, sọc trắng, hàn kín chứa chất bột trắng và tinh thể rắn trắng. Căn cứ Kết luận giám định số 109/KLGT-PC09 (MT) ngày 18-5-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định là ma túy, loại Horoine, có tồng khối lượng: 0,2243g (không phẩy hai hai bốn ba gam). Mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,0119 gam (không phẩy không một một chín gam). Ngày 14-6-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Bá K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 25-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố KXC đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa,

- Bị cáo Nguyễn Bá K thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình lo cho mẹ bị bệnh.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Bá K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự theo nội dung cáo trạng. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo K thuộc thành phần nhân dân lao động; hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do có hàn cảnh khó khăn.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định.

Đối vớ i: Người thanh niên tên Phúc (không rõ lai lịch), bán ma túy cho Nguyễn Bá K, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố KXC, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố KXC, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt và bị cáo không có ý kiến về việc vắng mặt. Xét, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Về nội dung,

Hành vi phạm tội:

Bị cáo Nguyễn Bá K khai nhận, khoảng 20 giờ ngày 04-5-2021, bị cáo từ nhà xã X, A qua phà Châu Giang đến khu vực khóm 3, phường Châu Phú A, thành phố KXC mục đích mua ma túy sử dụng của một người thanh niên tên Phúc. Bị cáo mua 09 tép loại Heroin, 01 tép ma túy đá với tổng số tiền là 550.000 đồng. Nhận ma túy xong, bị cáo đem về nhà lấy 01 tép ma túy ra chia làm hai phần và sử dụng hết một phần. Phần còn lại bị cáo hàn kín lại và để chung vào số ma túy mua được. Sau đó, ngày 06-5-2021, bị cáo cất giấu số ma túy trên trong túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi đến khu vực tổ 19, khóm Vĩnh Đông, phường SN, thành phố KXC để chơi game bắn cá. Khoàng 9 giờ chung ngày, Công an phường SN, thành phố KXC, tỉnh An Giang trên đường tuần tra đến khu vục tổ 19, khóm Vĩnh Đông 1 phát hiện và bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06-5-2021 và lời khai của người làm chứng. Theo Kết luận giám định số 109/KLGĐ-PC09(MT) ngày 18-5-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định là ma túy, loại Horoine, có tồng khối lượng: 0,2243g (không phẩy hai hai bốn ba gam). Mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,0119 gam (không phẩy không một một chín gam). Từ đó có căn cứ xác định, bị cáo K đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin và Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạt tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố KXC truy tố và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố KXC đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Tiền trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động, chưa có tiền án tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo K có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: Lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo K khi bị bắt quả tang là vật cấm lưu hành đã được niêm phong theo 01 (một) phong bì (vụ số: 109/KLGT-PC09(MT) ngày 18-5-2021) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC, tình An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Trần Phương Chúng. Xét, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy này theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-7-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố KXC với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố KXC; Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 19-5-2021 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC). [7] Về các vấn đề khác: Bị cáo K khai lượng ma túy mà bị cáo bị bắt và công an thu giữ được bị cáo mua của 01 người thanh niên tên Phúc ở phường Châu Phú A vào ngày 04/5/2021 nhưng bị cáo không cung cấp được họ, địa chỉ cụ thể của người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Nguyễn Bá K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam 21-6-2021.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 109/KLGT-PC09 (MT) ngày 18-5-2021) in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC, tỉnh An Giang các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Trần Phương Chúng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-7-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố KXC với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố KXC; Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 19-5-2021 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố KXC).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Bá K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ