vanban.org

Bản án 65/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Khúc Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Khúc Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/02/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khúc Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Khúc Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2021/HS-ST
Ngày 24 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân Các hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Hữu Hưởng

Ông Cầm Văn Tổ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

KHÚC VĂN N. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1978 tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Đội A, xã B, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khúc Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1937; Bị cáo có vợ là Lò Thị U, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 con sinh năm 1997 và 2007.

Tiền án: Ngày 16/6/2016 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2021 đến nay, giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị U, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn A1, xã B, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 01/02/2021, tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại tiểu khu 19, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện Khúc Văn N điều khiển xe mô tô hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển kiểm soát 27F1 - 0592, phía sau chở Quàng Thị T (sinh năm 1991, trú tại bản P, xã K, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La) có biểu hiện nghi tàng trữ trái phép chất chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu hai đối tượng có ma túy thì giao nộp, N dùng tay trái lấy trong túi áo khoác bên trái đang mặc 01 gói nilon bọc giấy bạc bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine giao nộp cho tổ công tác. N khai nhận gói vật chứng thu giữ là Heroine của N, mục đích tàng trữ để sử dụng. Còn đối tượng T qua kiểm tra không phát hiện thu giữ gì (T không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy). Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Khúc Văn N và thu giữ niêm phong vật chứng nêu trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của N: 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu trắng kèm theo 01 sim điện thoại di động; Số tiền 1.750.000VNĐ; 01 chiếc xe mô tô, hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển kiểm soát 27F1 - 0592; 01 giấy phép lái xe số U063670 và 01 giấy chứng minh thư nhân dân số 040235133 đều mang tên Khúc Văn N; 01 đăng ký xe mô tô số A0000766 mang tên Nguyễn Quốc Mạnh.

Quá trình điều tra Khúc Văn N khai nhận:

Khoảng 07 giờ ngày 01/02/2021, N có dự định về quê ở tỉnh Điện Biên ăn tết Nguyên Đán nên nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. N điều khiển xe mô tô hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển kiểm soát 27F1 - 0592 đi từ khu vực nhà trọ ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đến khu vực nghĩa trang thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy. Tại đây, N gặp một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) và mua được 01 gói Heroine bọc bằng giấy bạc với giá 100.000VNĐ. Sau đó, N cất gói Heroine vào túi áo đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về phòng trọ. N thu dọn đồ đạc rồi sang phòng trọ bên cạnh gặp bạn là Quàng Thị T rủ nhau cùng về quê, T đồng ý. N điều khiển xe mô tô hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển kiểm soát 27F1 - 0592 chở Quàng Thị T đi từ thành phố Hà Nội về nhà ở tỉnh Điện Biên theo đường Quốc lộ 6. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực ngã tư đèn đỏ thuộc tiểu khu 19, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ, vật chứng như trên.

Ngày 02/02/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Khúc Văn N. Kết quả: Khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,0698 gam; trích rút toàn bộ, ký hiệu M để làm mẫu giám định.

Ngày 03/02/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 454, kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,0698gam.

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,0698gam; Loại Heroine”.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSMS ngày 23/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Khúc Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Khúc Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Khúc Văn N từ 12 đến 15 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy bạc gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Trả cho bị cáo Khúc Văn N số tiền 1.750.000VNĐ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu trắng, kèm theo 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ còn nguyên niêm phong; 01 giấy phép lái xe số U063670 mang tên Khúc Văn N; 01 giấy chứng minh nhân dân số 040235133 mang tên Khúc Văn N.

Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Lò Thị U 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, biển kiểm soát 27F1 – 0592, số khung 0018968, số máy 0018968, đã qua sử dụng cũ; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0000766 mang tên Nguyễn Quốc M.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Khúc Văn N tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Khúc Văn N khai nhận: Khúc Văn N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 01/02/2021, Khúc Văn N đã mua trái phép 100.000VNĐ Heroine để sử dụng cho bản thân. Cùng ngày, Khúc Văn N đã bị tổ công tác Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng số 0,0698gam Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm quả tang lập hồi 22 giờ 00 phút ngày 01/02/2021 của tổ công tác Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện Mai Sơn; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 08 giờ 00 phút ngày 02/02/2021 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; phù hợp với kết luận giám định số 454 ngày 03/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.

Với việc tàng trữ 0,0698gam Heroine mục đích để sử dụng và đang có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Khúc Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 32/CT-VKSMS ngày 23/4/2021 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm."

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Bị cáo đã từng bị xử phạt về tội mua bán trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo khi xem xét mức hình phạt.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, giúp cho bị cáo có thể từ bỏ được ma túy, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập của bị cáo không ổn định và bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là hợp lý.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy bạc gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định. Xét thấy đây là những vật vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.750.000VNĐ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu trắng, kèm theo 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ còn nguyên niêm phong; 01 giấy phép lái xe số U063670 mang tên Khúc Văn N; 01 giấy chứng minh nhân dân số 040235133 mang tên Khúc Văn N. Xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo Khúc Văn N, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, biển kiểm soát 27F1 – 0592, số khung 0018968, số máy 0018968, đã qua sử dụng cũ; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0000766 mang tên Nguyễn Quốc M. Xét thấy, đây là tài sản chung của bị cáo và vợ là Lò Thị U, việc bị cáo dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy chị U không biết và chị U đã có đơn xin lại tài sản là chiếc xe máy. Nên cần trả lại cho chị Lò Thị U.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy, N khai mua của một người đàn ông (N không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực nghĩa trang xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; việc mua bán không có ai biết, chứng kiến, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đối với Quàng Thị T, quá trình điều tra xác định T không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đặt vấn đề xử lý đối với T là hợp lý, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Khúc Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Khúc Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/02/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy bạc gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Trả cho bị cáo Khúc Văn N số tiền 1.750.000VNĐ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, vỏ màu trắng, kèm theo 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ còn nguyên niêm phong; 01 giấy phép lái xe số U063670 mang tên Khúc Văn N; 01 giấy chứng minh nhân dân số 040235133 mang tên Khúc Văn N.

Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Lò Thị U 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, biển kiểm soát 27F1 – 0592, số khung 0018968, số máy 0018968, đã qua sử dụng cũ; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số A0000766 mang tên Nguyễn Quốc M.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/6/2021); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ