- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Lê Tất Nam - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm b khoản Điều 355; điểm e khoản Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tất Nam; sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự khoan hồng
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:65/2021/HS-PT Ngày 22-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Trần Thị Thu Hà
Các Thẩm phán: ng Nguyễn V n Thiệm;
Bà Phạm Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: ng Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 n m 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53 202 TLPT-HS ngày 25 tháng 6 n m 202 đối v i bị cáo Lê Ndo có kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 22 202 HS-ST ngày 20 5 202 của Tòa án nhân dân huyện V nh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có háng cáo:
+ Lê N, sinh ngày 27 tháng 2 n m 995 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn An Cố Bắc, xã An Tân, huyện TT, tỉnh TB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2 2; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tất Hải và bà Mai Thị Ruyên; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ng n chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 3 tháng n m 2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 08 8 2020, bị cáo Lê N có giấy phép lái xe hạng A , còn thời hạn sử dụng, được phép điều khiển xe mô tô có dung tích xilanh từ 75 cc trở xuống, điều khiển xe mô tô mang biển số 7B6-298.65 có dung tích xi lanh 149,8 cc của anh Phạm Thế Hoàn chở phía sau là anh Hoàn và anh Trương V n Quân sang thị trấn V nh Bảo, huyện V nh Bảo, thành phố Hải Phòng chơi. Khi đi đến khu vực ngã 3 nơi giao nhau giữa đường nối cầu Nhân Hòa v i Quốc lộ 0 thuộc địa phận xã Nhân Hòa, huyện V nh Bảo mà phía trư c có biển báo cấm số 23a (báo hiệu cấm rẽ trái), biển báo nguy hiểm số 208 (báo hiệu nơi giao nhau v i đường ưu tiên) và dải phân cách cứng ở giữa Quốc lộ 0 v i vận tốc khoảng 60km h–70km h. Do thiếu quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên Nam đã điều khiển xe đi thẳng ra Quốc lộ 0 rồi tự đâm va vào dải phân cách ở giữa đường làm anh Quân chết, Nam và anh Hoàn bị thương, chiếc xe mô tô bị hư hỏng. Khám nghiệm hiện trường cho thấy: Nơi xảy ra vụ tai nạn khu vực ngã 3 nơi giao nhau giữa đường nối cầu Nhân Hòa v i Quốc lộ 0. Trong đó Quốc lộ 0 là đường 02 chiều có lòng đường rộng 8m, được phân chia bởi dải phân cách cứng v i mỗi chiều gồm có 02 làn đường dành cho xe cơ gi i (mỗi làn rộng 3,5m) và 0 làn đường dành cho xe thô sơ v i người đi bộ rộng 02m. Ở phía trư c ngã 3 từ đường nối cầu Nhân Hòa ra Quốc lộ 0 có 0 cột biển báo gồm 0 báo cấm số 23a (báo hiệu cấm rẽ trái), 0 biển báo nguy hiểm số 208 (báo hiệu nơi giao nhau v i đường ưu tiên). Trên hiện trường để lại các dấu vết sau: 0 vết phanh dài 2,5m nằm ngang trên Quốc lộ 0, đầu vết cách mép đường từ Thái Bình đi Hải Phòng là 0m, cách tâm ngã 3 là 3,4m và cách cột biển báo trên là 0m; cuối vết nằm sát mép dải phân cách cứng trên Quốc lộ 0. Vết máu I có kích thư c 0,5m x 0,4m, tâm vết cách mép đường từ Thái Bình đi Hải Phòng là 08m và cách cuối vết phanh là 02m. Vết máu II có kích thư c 0,8m x 0,5m, tâm vết cách mép đường từ Thái Bình đi Hải Phòng là 8,5m và cách tâm vết máu I là 0,5m; trên bề mặt bê tông của giải phân cách cứng ở giữa Quốc lộ 0 có một số vết trầy xư c, mất bê tông màu trắng, bám dính chất màu đen dạng cao su, hư ng từ ngoài vào trong.
Tại bản Kết luận giám định số 64 2020 GĐPY ngày 25 8 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận về thương tích và nguyên nhân chết của anh Trương V n Quân như sau: “… Vỡ phức tạo xương hộp sọ, xuất huyết não. Vỡ hở ổ hớp hủy tay phải….Về thương tích: Các thương tích trên người nạn nhân có đặc điểm hình thành do va đập, mài trượt với vật tày gây nên. Về nguyên nhân chết: Nạn nhân chết do sốc đa chấn thương".
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 28 2020 TgT ngày 20 0 202 của Trung tâm Pháp y Hải Phòng đã kết luận về thương tích của anh Phạm Thế Hoàn như sau:“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Nạn nhân bị vết thương rách da vùng chẩm trái, chụp CT sọ não ngày 09/8/2020 và ngày 10/8/2020 tại Bệnh viện Đa hoa quốc tế Hải Phòng- Vĩnh Bảo ết luận hình ảnh chảy máu dưới nhện vị trí rãnh cuộn não vùng trán phải. Tụ máu trong nhu mô não thùy trán phải. Chụp CT sọ não ngày 14/01/2021 tại Bệnh viện Việt Tiệp- Hải Phòng ết luận hiện tại hông thấy hình ảnh tổn thương trên phim chụp CT sọ não. 2. Kết luận:… Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương vùng chẩm trái gây nên là: 01% (Một phần trăm). Kết quả chụp CT sọ não iểm tra lại hi giám định ngày 14/01/2021 tại Bệnh viện Việt Tiệp- Hải Phòng ết luận hông tìm thấy hình ảnh tổn thương trên phim chụp CT sọ não. Vì vậy cơ quan CSĐT phải cung cấp phim chụp CT sọ não ngày 09/8/2020 và ngày 10/8/2020 của Bệnh viện Đa hoa quốc tế Hải Phòng - Vĩnh Bảo để hội chẩn lại xác định nạn nhân có đúng bị chảy máu dưới nhện và tụ máu nhu mô não thì mới có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với tổn thương này. 3. Kết luận hác: Thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.
Biên bản làm việc v i Bệnh viện Đa khoa quốc tế Hải Phòng- V nh Bảo cho thấy: Vào ngày 09 và 0 8 2020, bệnh viện có chụp CT sọ não cho anh Phạm Thế Hoàn nhưng sau đó do phải sửa chữa máy chụp CT nên bộ nh của máy đã bị xóa. Vì vậy không còn phim chụp CT sọ não của anh Hoàn để cung cấp cho Cơ quan điều tra. Còn anh Hoàn đã nhận được phim chụp CT sọ não nhưng hiện không còn lưu giữ. Theo Công v n số 09 202 CV ngày 27 0 202 của Trung tâm pháp y Hải Phòng đã trả lời cho biết: “Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế và việc cơ quan Cảnh sát điều tra hông cung cấp 02 phim chụp CT sọ não ngày 09/8/2020 và ngày 10/8/2020 của Bệnh viện Đa hoa quốc tế Hải Phòng – Vĩnh Bảo để hội chẩn đọc lại phim nên Trung tâm Pháp y Hải Phòng hông có căn cứ để tiếp tục giám định thương tích đối với nạn nhân Phạm Thế Hoàn.”. Do đó không có c n cứ để xác định về tỷ lệ phần tr m tổn thương cơ thể.
Quá trình khám xe mô tô mang biển số 7B6-298.65 cho thấy: Mặt nạ phía trên đầu xe bị bật rời xe, trên bề mặt có dính tạp chất màu nâu nghi là máu có kích thư c 0cm x 5cm. Cụm đèn phía trư c bị bật bung. Mặt nạ phía dư i xe, đèn xi nhan phía trư c hai bên và cánh yếm hai bên bị vỡ, nứt nhựa. Gương chiếu hậu bên trái bị cong gập theo hư ng từ trên xuống dư i. Đầu tay cầm và đầu tay phanh bên phải có vết trầy xư c kim loại kích thư c ,5cm x 0 cm. Chắn bùn phía trư c bị nứt vỡ, cong gập theo chiều từ trư c về sau, từ ngoài vào trong. Phần khung càng bánh trư c bị cong gập theo chiều từ trư c về sau, từ ngoài vào trong và áp sát vào phần máy. Lốp bánh trư c có vết xư c cao su, bám bụi. Hai đèn xi nhan phía sau bị gẫy gập rời khỏi vị trí ban đầu. Mặt ngoài chắn bùn phía sau còn dính tạp chất dạng đất có kích thư c 0,5cm x 0,5cm.
Tại bản Kết luận giám định số 647 C09-P3 ngày 23 9 2020 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận về dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 7B6-298.65 v i dải phân cách cứng ở nơi xảy ra vụ tai nạn như sau: “ a) Dấu vết trượt xư c, mất cao su màu đen, bám dính chất màu trắng dạng bột bê tông ở mặt ngoài bên phải lốp và vành bánh trư c xe mô tô biển số 7B6-298.65 có chiều từ mặt l n vào vành, từ phải sang trái (ảnh 4,6 trong bản ảnh giám định), phù hợp v i dấu vết trượt xư c, mất bê tông màu trắng, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài phía dư i dải phân cách cứng đường Quốc lộ 0 tại hiện trường (đoạn thuộc địa phận xã Nhân Hòa, huyện V nh Bảo, thành phố Hải Phòng). Dấu vết va chạm ở dải phân cách cứng tại vị trí này có chiều từ ngoài vào bên trong dải phân cách, trên xuống dư i (ảnh 5,7 trong bản ảnh giám định). Dấu vết trượt xư c kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột bê tông) ở mặt ngoài đầu trục bên phải bánh trư c xe mô tô biển số 7B6-298.65 có chiều từ trư c về sau, từ phải sang trái (ảnh 4,8 trong bản ảnh giám định), phù hợp v i dấu vết trượt xư c, mất bê tông màu trắng ở mặt ngoài phía dư i dải phân cách cứng đường Quốc lộ 0 tại hiện trường (đoạn thuộc địa phận xã Nhân Hòa, huyện V nh bảo, thành phố Hải Phòng). Dấu vết va chạm ở dải phân cách cứng tại vị trí này có chiều từ ngoài vào bên trong dải phân cách, trên xuống dư i (ảnh 5,9 trong bản ảnh giám định). b) Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 7B6-298.65 theo dấu vết phanh khi tai nạn”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 20/5/2021 của T ND huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng:
Căn cứ vào điểm a hoản 1 Điều 260; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê N 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi trú đối với bị cáo Lê N đến thời điểm bị cáo Lê N đi chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, còn tuyên nghĩa vụ nộp án phí và quyền háng cáo Bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Nkháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận tội như nội dung Bản án sơ thẩm và cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ giảm nh trách nhiệm: Bị hại và gia đình bị hại tiếp tục có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối v i bị cáo; hiện bị cáo đang ch m sóc m già, em nhỏ là lao động chính trong gia đình.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Nvề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
ét háng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xin được hưởng án treo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 5 tháng tù là có c n cứ
Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự m i: Gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình; hiện đang ch m sóc m già bị ung thư và em nhỏ; bị cáo có nơi cư trú r ràng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ điểm b khoản Điều 355; điểm e khoản Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Nđã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp v i lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp v i lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 08 8 2020, bị cáo Lê N có giấy phép lái xe loại A , còn thời hạn sử dụng, được phép điều khiển xe mô tô có dung tích xilanh từ 75cc trở xuống đã điều khiển xe mô tô BKS 17B-298.65 có dung tích xi lanh 49,8cc chở theo anh Phạm Thế Hoàn và Trương V n Quân, khi đi đến khu vực ngã 3 nơi giao nhau v i Quốc lộ 0 có biển báo cấm số 23a (báo hiệu cấm rẽ trái) và biển báo nguy hiểm số 208 (báo hiệu nơi giao nhau v i đường ưu tiên) do thiếu quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, nên đã đâm vào dải phân cách cứng ở giữa Quốc lộ 0 làm anh Trương V n Quân chết, anh Phạm Thế Hoàn bị thương tích % và gây thiệt hại về tài sản trị giá 4.940.000 đồng. V i hành vi nêu trên bị cáo Lê Nđã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác nên cần xét xử nghiêm.
3 Xét kháng cáo của bị cáo Lê Nđề nghị Tòa án xét xử phúc thẩm cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo n n hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luât Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét tính chất mức độ, vai trò, hành vi phạm tội xử bị cáo 5 tháng tù là thỏa đáng không nặng
Tại giai đoạn phúc thẩm: Bị cáo cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ m i thể hiện: Gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình; hiện đang ch m sóc m già bị ung thư và em nhỏ; bị cáo có nơi cư trú r ràng, bị hại đồng ý lên xe mô tô để chở 03 người là cũng có phần lỗi. Đây là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự m i quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội v i lỗi vô ý và có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và chấp nhận kháng cáo của bị cáo; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự khoan hồng cho bị cáo cũng đảm bảo tính r n đe và phòng ngừa chung;
[6 Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- C n cứ điểm b khoản Điều 355; điểm e khoản Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tất Nam; sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
- C n cứ vào điểm a khoản Điều 260; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử: Bị cáo Lê N15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Ncho Ủy ban nhân dân xã An Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: C n cứ Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 20 5 và Nghị quyết 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Nkhông phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 22 202 HS-ST ngày 20 5 202 của TAND huyện V nh Bảo, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thi m Phạm Thị Thanh nh
Tr n Thị Thu H
| Nơi nhận: - VKSND TPHP; - VKSND quận Hải An; - PV 06 Công an TPHP; - Cơ quan CSĐT huyện V nh Bảo; - Cơ quan THAHS huyện V nh Bảo; - TAND huyện V nh Bảo; - Sở Tư pháp TP; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tr n Thị Thu H |