vanban.org

Bản án 65/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đủ; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Thị Thúy Liễu

2. Sơn Ngọc Ngoan

Thư ký phiên tòa: Châu Thị Phượng Liên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Không tham gia

Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2021/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2021/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2021 và giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hồ Thị Ngọc H, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Mỹ, xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

2. Bị đơn: Huỳnh Văn T, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Mỹ, xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của Hồ Thị Ngọc H như sau:

Chị H và Anh T chung sống với nhau vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Chánh. Thời gian chung sống có 01 con chung tênHuỳnh Khánh M, sinh ngày 10/12/2015, hiện Chị H đang nuôi dưỡng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn là do Anh T cờ bạc, rượu chè bê tha, không lo làm ăn nên hai người đã ly thân nhau từ tháng 9/2020 cho đến nay. Nay xác định tình cảm không còn thương nhau nữa nên yêu cầu tòa giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với Anh T

Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Không yêu cầu Anh T phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa giải quyết

Chị H bận công việc không đến tòa được nên có đơn yêu cầu tòa xét xử vắng mặt

Anh Huỳnh Văn T đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết ý kiến của anh về việc khởi kiện của Chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T đã được thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập xét xử hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ căn cứ để xét xử vụ án

[2] Về hôn nhân: Chị H và Anh T chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do Anh T cờ bạc không lo làm ăn, làm cho cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên Chị H và Anh T đã ly thân nhau từ tháng 9/2020. Tòa án đã tổ chức hòa giải động viên cho anh, chị đoàn tụ lại với nhau nhưng Anh T không đến nên không hòa giải được. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được chung sống cũng không hạnh phúc nên hội đồng xử án chấp nhận yêu cầu của Chị H cho chị được ly hôn với Anh T là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Hội đồng xử án xét thấy từ khi ly thân nhau đến nay Chị H là người trực tiếp nuôi con, cháu Khánh M còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của Chị H

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét

[5] về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét

[6] Về án phí: Buộc Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 58, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Ngọc H cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn T

Về con chung: Giao Huỳnh Khánh M, sinh ngày 10/12/2015 cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng

Sau khi ly hôn Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét

Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004775 ngày 25/2/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; Chị H không phải nộp nữa.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ