vanban.org

Bản án 65/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 09/03/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn D (D1) trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 16.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Về án phí dân sự…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn D (D1) trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 16.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 65/2021/DS-ST
Ngày 09 - 3 - 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Ông Trần Quốc Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 712/2020/TLST-DS, ngày 18 tháng 12 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn D (D1), sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 17/5/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) có hỏi vay của ông số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận. Thời gian thanh toán là vào ngày 17/6/2020. Vào ngày 07/6/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) có hỏi vay của ông số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận. Thời gian thanh toán là vào ngày 07/7/2020. Quá trình nợ tiền, ông Nguyễn Văn D (D1) có ký tên vào biên nhận nợ. Từ khi vay tiền và ký nhận nợ đến nay phía ông Nguyễn Văn D (D1) không trả, ông có liên hệ đòi nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn D (D1) cứ hẹn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn D (D1) trả số tiền còn nợ là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), đồng thời yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn D (D1) đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Nguyễn Văn D (D1) từ việc ông Nguyễn Văn D (D1) còn nợ tiền vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ông Nguyễn Văn D (D1) được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn D (D1).

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S xác định ông Nguyễn Văn D (D1) có thỏa thuận vay của ông 02 lần tiền tổng cộng là 15.000.000 đồng. Từ đó, có căn cứ xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

[3]. Về nội dung: Ông Nguyễn Việt S xác định là ông đã thỏa thuận cho ông Nguyễn Văn D (D1) vay 02 lần tiền. Cụ thể, vào ngày 17/5/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) có hỏi vay của ông Nguyễn Việt S số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận. Thời gian thanh toán là vào ngày 17/6/2020. Vào ngày 07/6/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) có hỏi vay của ông Nguyễn Việt S số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận. Thời gian thanh toán là vào ngày 07/7/2020. Quá trình 02 lần nợ tiền, ông Nguyễn Văn D (D1) có ký tên vào biên nhận nợ. Từ khi vay tiền đến nay ông Nguyễn Văn D (D1) không trả tiền. Ông Nguyễn Việt S có liên hệ đòi nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn D (D1) cứ hẹn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Nguyễn Việt S đã cung cấp 02 biên nhận nợ tiền ngày 17/5/2020 và ngày 07/6/2020 có nội dung ông Nguyễn Văn D (D1) còn nợ tiền như nội dung ông Nguyễn Việt S yêu cầu.

[4]. Đối với ông Nguyễn Văn D (D1) không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố. Do ông Nguyễn Văn D (D1) đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký kết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S và buộc ông Nguyễn Văn D (D1) phải trả toàn bộ số tiền vay còn nợ là 15.000.000 đồng cho ông Nguyễn Việt S là có cơ sở.

[5]. Về lãi suất: Theo các biên nhận nợ ngày 17/5/2020 và ngày 07/6/2020 có chữ ký của ông Nguyễn Văn D (D1) do ông Nguyễn Việt S cung cấp thể hiện đối với biên nhận nợ ngày 17/5/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) cam kết đến ngày 17/6/2020, biên nhận nợ ngày 07/6/2020, ông Nguyễn Văn D (D1) cam kết đến ngày 07/7/2020 sẽ trả đủ tiền cho ông Nguyễn Việt S.

Đối với số tiền vay 5.000.000 đồng ngày 17/5/2020 sẽ trả đủ vào ngày 17/6/2020; đối với số tiền vay 10.000.000 đồng ngày 07/6/2020 sẽ trả đủ vào ngày 07/7/2020. Do ông Nguyễn Văn D (D1) không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết nên ông Nguyễn Việt S yêu cầu ông Nguyễn Văn D (D1) trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau:

+ Đối với số tiền vốn vay 5.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, lãi ngày là 0,028%, tiền lãi tính từ ngày 17/5/2020 đến ngày xét xử (ngày 09/3/2021) là 09 tháng 14 ngày (5.000.000 đồng x 09 tháng 14 ngày x 0,028%) = 397.600 đồng. Như vậy, tổng tiền vốn vay và lãi là 5.397.600 đồng.

+ Đối với số tiền vốn vay 10.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, lãi ngày là 0,028%, tiền lãi tính từ ngày 07/5/2020 đến ngày xét xử (ngày 09/3/2021) là 09 tháng 02 ngày (10.000.000 đồng x 09 tháng 02 ngày x 0,028%) = 761.600 đồng. Như vậy, tổng tiền vốn vay và lãi là 10.761.600 đồng.

Như vậy, ông Nguyễn Văn D (D1) nợ ông Nguyễn Việt S tổng số tiền vốn và lãi tính đến thời điểm xét xử theo quy định của pháp luật là 16.159.200 đồng.

[6]. Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận toàn bộ nên buộc ông Nguyễn Văn D (D1) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng các điều 463, 468 của Bộ luật Dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn D (D1) trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 16.159.200 đồng (mười sáu triệu một trăm năm mươi chín nghìn hai trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn D (D1) phải chịu 807.960 đồng (tám trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi đồng).

Ông Nguyễn Việt S được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 375.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012318 ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Việt S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn D (D1) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ