vanban.org

Bản án 65/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N về việc yêu cầu chị Trần Thị Ng bồi thường thiệt hại về kinh doanh số tiền 4.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số: 0006508 ngày 05/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên khấu t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "yêu cầu bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N về việc yêu cầu chị Trần Thị Ng bồi thường thiệt hại về kinh doanh số tiền 4.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2021/DS - ST
Ngày: 21 - 10 - 2021
V/v tranh chấp “Yêu cầu bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Khen

2. Ông Nguyễn Văn Trước

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Ông Trần Long Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2021/TLST - DS ngày 05 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1984 – Chủ doanh nghiệp tư nhân tiệm vàng Loan N (có mặt)

Trú tại: Số 75/5 ấp PM, xã ĐP, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long

2. Bị đơn: Chị Trần Thị Ng, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Trú tại: Số 179B/13 ấp HP, xã HN, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/01/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Chị N là chủ tiệm vàng Loan N, vào ngày 18/9/2019 có bán cho chị Trần Thị Ng 01 nhẫn trơn vàng 9999 với giá tiền 4.160.000đ/01 chỉ vàng và 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 đôi bông tai vàng 18K, không có xuất hóa đơn bán hàng chỉ ghi trọng lượng vàng 9999 và số tiền vào bao giấy đựng vàng.

Đến ngày 29/9/2019 chị Ng mang chiếc nhẫn vàng hiệu K Huỳnh đến tiệm vàng của chị, yêu cầu chị mua lại, nhưng chị N không đồng ý vì tiệm vàng của chị, bán vàng hiệu Kha Hưng Long. Chị Ng không về mà cho rằng đã mua chiếc nhẫn này tại tiệm của chị N, yêu cầu chị N giải quyết cho chị Ng, nên chị N có gọi công an xã đến giải quyết, khi công an hỏi sự việc thì chị Ng nói tiệm vàng bán vàng gì mà trắng xác chứ cũng không nói gì khác, sau đó công an có kêu chị Ng ra về. Chị Ng ra về, công an không có lập biên bản. Từ đó đến nay chị Ng cũng không nói gì.

Cách khoảng 02 ngày sau chồng chị Ng xuống chợ Hòa Ninh, đứng ở chổ đông người la lên nói “ tiệm vàng Loan N bán cho anh, vàng trắng xác như vầy nè bà con ơi”. Sự việc chị Ng đến cửa tiệm chị yêu cầu giải quyết đã làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của chị, làm cho chị buôn bán ế ẩm kéo dài trong thời gian từ 18/9/2019 đến tháng 3/2020 làm cho chị bị giảm tiền thu nhập mua bán vàng, so sánh với thu nhập của năm trước khi xảy ra sự việc thì chị bán được 05 lượng 9 chỉ vàng 24k, mà từ khi xảy ra sự việc này trong thời gian một năm, chị chỉ bán được 03 lượng 05 chỉ vàng 24k. Mổi chỉ vàng lãi 10.000đ, làm thiệt hại thu nhập của chị là 250.000đ.

Vì, vậy chị N yêu cầu chị Ng bồi thường cho chị các khoản sau:

Tiền thuê mặt bằng: 325.000đ/tháng x 6 tháng = 1.950.000đồng

Tiền thuê kế toán: 500.000đ/tháng x 6 tháng = 3.000.000đồng

Ngoài ra chị Ng còn làm ảnh hưởng uy tín, danh dự của tiệm vàng chị N số tiền thiệt hại là 15.000.000đồng

Bị đơn chị Trần Thị Ng trình bày:

Trước đây chị Ng có đến tiệm vàng Loan N để mua bán vàng rất nhiều lần, vào ngày 18/9/2019 chị đến tiệm vàng Loan N mua 1 chỉ vàng 9999, 1 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 đôi bông tai vàng 18K, do tin tưởng nhau nên khi mua chị N chỉ đưa cho chị 1 chiếc nhẫn vàng 9999 đeo vừa tay là được, chị cũng không có kiểm tra ký hiệu bên trong của chiếc nhẫn, chị N không có đưa cho chị hóa đơn gì chỉ có đưa túi giấy đựng vàng, phía sau có ghi số tiền của chiếc nhẫn, còn vàng 18K không có đưa bao đựng vàng. Đối với chiếc nhẫn thì chị trực tiếp đeo trên tay từ ngày mua, khoảng 4-5 ngày sau chị phát hiện chiếc nhẫn bị phai màu nên mang chiếc nhẫn đến gặp chị N hỏi tại sao chiếc nhẫn bị phai màu yêu cầu chị N giải quyết thì chị N không đồng ý nói là vàng không phải của tiệm vàng chị N bán cho chị, lúc này chị N có kêu công an xã qua làm việc thì chị đi về.

Khoảng 3-4 ngày sau, anh Tú chồng của chị có đến gặp chị N nhưng nói về việc gì thì chị không biết. Sau đó anh Tú về kêu chị đi gặp chị N để nói chuyện. Khi đến gặp chị N thì chị Ng không có nói gì, còn anh Tú hỏi chị mua vàng của ai và mua ở tiệm vàng nào, chị nói là mua vàng của chị N tại tiệm vàng Loan N xong rồi là chị đi ra ngoài chợ Hòa Ninh đứng. Nên chị Ng không đồng ý theo yêu cầu của chị N vì chị Ng không có nói gì làm ảnh hưởng đến uy tín tiệm vàng Loan N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án

- Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Chị N trình bày nguyên nhân dẫn đến uy tín, danh dự của tiệm vàng Loan N bị thiệt hại, ảnh hưởng xấu đến việc kinh doanh là do vào ngày 29/9/2019 chị Ng đã đến tiệm vàng Loan N tại chợ Hòa Ninh và đã có hành vi chửi bới, cho rằng tiệm vàng Loan N bán vàng giả, chị N đã mời công an xã Hòa Ninh đến làm việc và lập biên bản, tuy nhiên đây chỉ là lời trình bày một phía từ chị N và chị Ng không thừa nhận, trên thực tế kể từ thời điểm khởi kiện cho đến tại phiên tòa ngày hôm nay chị N không cung cấp được biên bản làm việc ngày 29/9/2019 của Công an xã Hòa Ninh về việc chị Ng có hành vi làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của tiệm vàng Loan N, chị chỉ cung cấp được 01 biên bản trao đổi ngày 13/4/2020 của công an xã Hòa Ninh, nhưng không phải Ngy tại thời điểm xảy ra sự việc, vì vậy không đủ căn cứ để chứng minh việc chị Ng đến tiệm vàng Loan N để trao đổi yêu cầu chị N giải quyết việc chiếc nhẫn hay đến để hạ thấp danh dự, uy tín của tiệm vàng. Ngoài ra hành vi của chị Ng không bị Công an xã Hòa Ninh xử lý nên không phải là hành vi trái pháp luật và việc chị N cho rằng tiệm vàng Loan N bị thiệt hại giảm sút doanh thu bán vàng, nhưng chị không đưa ra được chứng cứ rõ ràng về việc bị thiệt hại là do hành vi của chị Ng gây ra hay là do sự tác động của việc cạnh tranh, tăng giảm giá vàng trên thị trường và sự ảnh hưởng của dịch Covid – 19 hay không, chị N cho rằng tiệm vàng bị thiệt hại về kinh doanh nhưng lại yêu cầu bồi thường tiền thuê kế toán và mặt bằng trong khi tiệm vàng Loan N vẫn hoạt động bình thường. Do đó căn cứ vào Điều 592 BLDS năm 2015, điểm 1, phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 thì trong trường hợp này không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm vì vậy yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N là không có căn cứ để chấp nhận.

Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, 592 Bộ Luật Dân sự năm 2015; điểm 1, phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N về việc buộc chị Trần Thị Ng bồi thường 4.950.000 đồng tiền thiệt hại kinh doanh và 15.000.000 đồng tiền thiệt hại danh dự, uy tín.

- Về án phí: buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị N có đơn xin miễn tiền án phí đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm là 15.000.000đ, nên miễn tiền án phí cho chị N về yêu cầu này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Bị đơn chị Trần Thị Ng có địa chỉ cư trú tại xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Ng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ng.

Về nội dung vụ án:

Qua lời trình bày của các đương sự, đều thừa nhận chị N là người bán hàng, chị Ng là người mua hàng. Chị N có bán cho chị Trần Thị Ng 1 chiếc nhẫn trơn trọng lượng 1 chỉ vàng 9999 với giá 4.160.000đ/ 01 chỉ vàng, 1 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 đôi bông tai vàng 18K không có xuất hóa đơn bán hàng, chỉ ghi trọng lượng vàng 9999 vào bao bì đựng vàng. Chị Ng cho rằng hàng hóa mình mua kém chất lượng nên đến khiếu nại người bán hàng, chị N cũng thừa nhận ngày 29/9/2019 chị N đến cửa tiệm của chị yêu cầu chị giải quyết, chị N không giải quyết cho chị Ng, thì chị cũng không có nói gì, chị N kêu công an đến, sau đó chị Ng ra về. Sự việc này được các bên thừa nhận, là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị N cho rằng chị Ng đến cửa tiệm của chị yêu cầu giải quyết gây ra tin đồn cửa tiệm của chị bán vàng giả làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự nhân phẩm của chị nhưng chị N cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh việc chị Ng đến cửa tiệm của chị gây rối, tung tin đồn nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của chị. Vì vậy, việc chị N yêu cầu chị Ng bồi thường cho chị tiền thuê mặt bằng, tiền thuê kế toán trong thời gian 06 tháng với số tiền 4.950.000đ và yêu cầu bồi thường thiệt hại do uy tín, danh dự bị xâm phạm với số tiền 15.000.000đ là không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 300.000đ tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn tiền án phí đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại 15.000.000đ do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 584, 592 Bộ Luật Dân sự năm 2015; điểm 1, phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N về việc yêu cầu chị Trần Thị Ng bồi thường thiệt hại về kinh doanh số tiền 4.950.000đồng và tiền thiệt hại danh dự uy tín 15.000.000đồng

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số: 0006508 ngày 05/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên khấu trừ qua.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị Ng được quyền kháng cáo bản trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật

Cỡ chữ