vanban.org

Bản án 260/2017/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 06/11/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Kim P.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Phan Thị Kim P kiện Tòa án nhân dân huyện TM"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Kim P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/2017/DS-PT
Ngày 06 -11 - 2017
V/v: “Tranh chấp dân sự về bồi thường
thiệt hại cho người bị kết án oan trong
hoạt động tố tụng hình sự”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương;

Các Thẩm phán:

Ông Tô Chánh Trung;

Ông Đặng Văn Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đỗ Hồng Quân-Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2017/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 474/2017/QĐXX-PT ngày 28 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim P.

Cư trú tại: Ấp 5A, xã TX, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K- Luật sư của Văn phòng Luật sư PS, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ trụ sở: Khóm 3, thị trấn MA, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hiến C. Chức vụ: Chánh án Tòa án nhân dân huyện TM.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D. Chức vụ: Phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện TM (theo văn bản ủy quyền ngày 31/10/2017).

Người kháng cáo: Nguyên đơn, bà Phan Thị Kim P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Phan Thị Kim P trình bày: Ngày 27/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 652/QĐ-TTg về việc giao đất để xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư và chợ mới thị tứ TX (xã TX, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp) với diện tích thu hồi là 98.536m2. UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 478/QĐ-UB-CH phê duyệt chi tiết khu Trung tâm thương mại xã TX, huyện TM. Căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật thì mặc dù ranh giới quy hoạch còn cách đất của gia đình bà khoảng 55m, nhưng UBND huyện TM vẫn cưỡng chế thu hồi diện tích 11.200m2, thửa số 18, tờ bản đồ số 11, tại xã Thạnh Lợi (xã TX) thuộc quyền sử dụng của cha bà là ông Phan Văn B. Bà đã khiếu nại, phản đối thì bị Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện TM khởi tố, bắt giam và xét xử về tội “Chống người thi hành công vụ”, xử phạt 12 tháng tù giam. Bà cho rằng bị oan nên đã khiếu nại. Ngày 19/01/2013, Công an huyện TM ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01. Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TM bồi thường oan sai tổng cộng là 2.181.413.900 đồng, gồm các khoản:

- Tổn thất về tinh thần: 44.222.700 đồng (đối với thời gian bị tạm giữ, tạm giam là 282 ngày) và 37.135.900 đồng (đối với thời gian bị truy tố không bị tạm giữ, tạm giam là 711 ngày), theo mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng.

- Tổn thất về sức khỏe 35.750.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút là 12 năm 07 tháng 17 ngày, mỗi ngày 350.000 đồng, tổng cộng 1.591.450.000 đồng.

- Chi phí đi lại và chi phí khác là 100.000.000 đồng.

Bà P rút yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường: Tiền cấp dưỡng cho cha là 91.166.600 đồng, tiền cấp dưỡng cho mẹ là 151.566.700 đồng, tiền cấp dưỡng cho 02 con là Minh T 115.333.000 đồng và Minh T1 48.266.600 đồng.

Bị đơn, Tòa án nhân dân huyện TM trình bày: Tòa án nhân dân huyện TM đã xét xử oan đối với bà P, thời gian tạm giữ, tạm giam là 282 ngày và thời gian không bị tạm giữ, tạm giam là 711 ngày nên đồng ý bồi thường theo mức lương cơ bản là 1.210.000 đồng/tháng, tổng cộng là 219.475.000 đồng, bao gồm: Tổn thất về tinh thần 85.635.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút là 33.840.000 đồng và chi phí đi lại, chi phí khác là 100.000.000 đồng. Không đồng ý bồi thường 35.750.000 đồng chi phí tổn thất về phục hồi sức khỏe và 1.591.450.000 đồng thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13/3/ 2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Áp dụng Điều 147, 244, 246, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 29, 30; Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự .

- Công nhận thỏa thuận của các đương sự, Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp phải bồi thường thiệt hại cho bà Phan Thị Kim P các khoản như sau:

+ Tổn thất về tinh thần 85.635.000 đồng, gồm 46.530.000 đồng đối với 282 ngày bị tạm giữ, tạm giam và 39.105.000 đồng đối với 711 ngày bị khởi tố, truy tố và xét xử mà không bị tạm giữ, tạm giam

+ Các khoản chi phí đi lại, chi phí khác là 100.000.000 đồng.

- Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút trong thời gian bị tạm giữ là 33.840.000 đồng.

Tổng cộng số tiền Tòa án nhân dân huyện TM có trách nhiệm phải bồi thường cho bà Phan Thị Kim P là 219.475.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Kim P về bồi thường chi phí tổn thất về phục hồi sức khỏe 35.750.000 đồng và yêu cầu bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút là 1.591.450.000 đồng.

- Đình chỉ yêu cầu của bà Phan Thị Kim P đối với các khoản bồi thường tiền cấp dưỡng cho cha 91.166.600 đồng, cấp dưỡng cho mẹ 151.566.700 đồng, cấp dưỡng cho 02 con là Minh T 115.333.000 đồng và Minh T1 48.266.600 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/3/2017, nguyên đơn bà Phan Thị Kim P kháng cáo yêu cầu bồi thường 35.750.000 đồng tổn thất về sức khỏe; 1.591.450.000 đồng do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và việc xác định giá trị ngày công 120.000 đồng là không có căn cứ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Yêu cầu Tòa án giải quyết các khoản bồi thường như đơn kháng cáo. Đồng thời bổ sung yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng là chi phí thuê luật sư. Bà P cho rằng trước khi bị khởi tố, bà có kinh doanh, thu nhập 350.000 đồng/ngày.

Luật sư của nguyên đơn trình bày: Theo quy định tại Điều 18 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì Tòa án có trách nhiệm xác minh thiệt hại để bồi thường cho người bị oan sai. Bà P bị bệnh phải đi khám là có thật, đây là hậu quả của việc bị oan nên phải được bồi thường tổn hại về sức khỏe. Bản án sơ thẩm đã xác định nghề nghiệp của bà P là buôn bán nhưng chỉ áp dụng giá trị ngày công là 120.000 đồng là không đúng. Do bà P có kinh doanh nhỏ lẻ nên không phải đăng ký kinh doanh. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà P, sửa bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tại phiên tòa, nguyên đơn và Luật sư của nguyên đơn xác nhận bà P có buôn bán nhỏ lẻ nên cần áp dụng quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-

BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 02/11/2012 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự để xác định giá trị ngày công là 120.000 đồng là đúng quy định. Về yêu cầu bồi thường tổn thất về sức khỏe và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, bà P không cung cấp được các chứng cứ mới nên cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự tranh luận và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, bà Phụng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TM bồi thường thiệt hại do bị kết án oan nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự” và giải quyết là đúng quy định tại Điều 22, 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Điều 26, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Đối với việc kháng cáo bổ sung về việc yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng chi phí thuê luật sư, thấy rằng: Tại cấp sơ thẩm, bà P không yêu cầu bồi thường chi phí luật sư nên Tòa án không xem xét là đúng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà P cũng không kháng cáo. Vì vậy, việc bổ sung kháng cáo nêu trên là vượt quá phạm vi kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với kháng cáo yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất do tổn hại về sức khỏe, thấy rằng:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; khoản 1 Điều 8, Điều 9 của Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-

BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 02/11/2012 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự quy định: Thiệt hại về vật chất do tổn hại về sức khỏe là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi, bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế; chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ.

b. Đối chiếu quy định nêu trên, trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà P không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu bồi thường tổn thất về sức khỏe. Tại phiên tòa, bà P cũng xác nhận không cung cấp được chứng cứ đã chi phí cho các khoản mục theo quy định tại Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC - TANDTC-BCA - BTP - BQP - BTC - BNN&PTNT nêu trên nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường 35.750.000 đồng là có căn cứ.

Đối với kháng cáo yêu cầu bồi thường thiệt hại về thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút, thấy rằng:

a. Khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT quy định: “Người bị thiệt hại (kể cả trường hợp đã chết) chỉ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù”. Hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của các đương sự, có căn cứ xác định thời gian bà P bị tạm giữ, tạm giam là 282 ngày. Như vậy, bà P được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian 282 ngày.

b. Điểm d, khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch số: 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT quy định: “Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị thiệt hại là nông dân, ngư dân, người làm muối, người trồng rừng, người làm thuê, người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, lao động khác, thực tế có thu nhập, nhưng theo mùa vụ hoặc không liên tục, thì lấy mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Mức thu nhập trung bình do chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú xác định.

Tại phiên tòa, bà P cho rằng trước khi bị khởi tố, bà P có buôn bán rau, thu nhập là 350.000 đồng/ngày. Tuy nhiên, bà P không cung cấp được chứng cứ, tài liệu chứng minh. Trong khi đó, lời khai của người làm chứng (các bút lục 135, 136, 140) có nội dung: Cha mẹ bà P là ông, bà B1 trồng rẫy, bà P có phụ gia đình làm rẫy, trồng rau; bà B1 đi bán rau, bà P còn nhỏ đi bán rau cải phụ bà B1. Như vậy, công việc của bà P là không ổn định và không có căn cứ xác định bà P có kinh doanh rau và thu nhập là 350.000 đồng/ngày. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Công văn số 50/UBND ngày 27/4/2016 của UBND xã TX, huyện TM (bút lục 195) để xác định giá trị ngày công lao động nữ làm nông nghiệp tại địa phương là 120.000 đồng/ngày là có cơ sở. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thu nhập bị mất của bà P là 33.840.000 đồng (=282 ngày bị tạm giữ, tạm giam x 120.000 đồng/ngày) là đúng.

Như nội dung tại mục [2], [3] nêu trên thì kháng cáo của bà P và nội dung trình bày của Luật sư của bà P là không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà P không phải chịu án phí phúc thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 244, 246, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26, 29, 30 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Kim P.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự.

4. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp phải bồi thường thiệt hại cho bà Phan Thị Kim P như sau:

- Bồi thường tổn thất về tinh thần 85.635.000 đồng, gồm 46.530.000 đồng đối với 282 ngày bị tạm giữ, tạm giam và 39.105.000 đồng đối với 711 ngày bị khởi tố, truy tố và xét xử mà không bị tạm giữ, tạm giam.

- Bồi thường các khoản chi phí gồm: Chi phí tàu xe, chi phí đi khiếu nại và các chi phí khác là 100.000.000 đồng.

5. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất. Buộc Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp bồi thường cho bà Phan Thị Kim P 33.840.000 đồng.

Tổng cộng số tiền Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp có trách nhiệm phải bồi thường cho bà Phan Thị Kim P là 219.475.000 (Hai trăm mười chín triệu bốn trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng.

6. Không chấp nhận khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về yêu cầu bồi thường 35.750.000 đồng do tổn hại về sức khỏe và 1.591.450.000 đồng về yêu cầu bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

7. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường tiền cấp dưỡng cho cha là 91.166.600 đồng, tiền cấp dưỡng cho mẹ là 151.566.700 đồng, tiền cấp dưỡng cho 02 con là Minh T 115.333.000 đồng và Minh T1 48.266.600 đồng.

8. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

9. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh Đồng Tháp phải chịu 10.973.750 (Mười triệu chím trăm bảy mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi) đồng.

10. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Kim P không phải chịu.

11. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

12. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 06 tháng 11 năm 2017./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ