vanban.org

Bản án 65/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 01/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn Cứ: Điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. * Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn - Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn Cứ: Điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2020/HSST.
Ngày: 01/12/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Phan Xuân Hùng.

2- Ông Trần Xuân Sơn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã M, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2020/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2020/HSST - QĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

* Đặng Thanh S - Sinh năm 1979; Nơi cư trú: Số nhà 192 đường Nguyễn Văn Linh, tổ dân phố Ph, phường B, thị xã M, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/ 12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Đặng Văn N; Họ và tên mẹ: Thái Thị Th; Có vợ: Đỗ Thị Thu H (tên gọi khác Đỗ Thu H - Đã ly hôn); Và có 02 con.

Tiền sự: Chưa có.

Tiền án: - Ngày 05/03/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Yên xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/05/2015.

- Ngày 24/05/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2019.

Nhân thân: Ngày 02/04/2002 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020, bị tạm giam từ ngày 11/9/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Thành Ch, Sinh năm 1989 (Vắng mặt). Địa chỉ: thôn Thanh X, xã Nghĩa H, huyện Y, tỉnh H.

* Người làm chứng:

1- Ông Trần Hữu Ph, Sinh năm 1958 (Vắng mặt).

2- Anh Đỗ Duy T, Sinh năm 1984 (Vắng mặt). Đều có địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh H.

3- Chị Nguyễn Thị D, Sinh năm 1971 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố Ph, phường B, thị xã M, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại ngõ Bình Tân thuộc tổ dân phố C, phường B, thị xã M có đối tượng biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Hồi 08 giờ ngày 10/09/2020 Công an thị xã M phối hợp với Công an phường B, tiến hành kiểm tra phát hiện Đặng Thanh S đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy trong người. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại bàn tay trái của S 01 túi nilon nhỏ mầu trắng một mặt có chữ mầu xanh bên trong có 02 gói giấy màu trắng có chữ mầu đen, trong gói giấy đều chứa chất bột dạng cục mầu trắng (đã niêm phong ký hiệu M) và quản lý chiếc xe đạp điện sơn mầu xanh, trên xe dán tem mác Exciter biển xe ghi chữ số 10A7.

Cùng ngày 10/09/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Thanh S kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 278/MT-PC09 ngày 10/09/2020 và Bản kết luận giám định số 278/MT-PC09 ngày 13/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M, có khối lượng là: 0,066g (Không phẩy không sáu sáu gam) là ma túy, là loại Heroine. Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra Đặng Thanh S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. S khai nhận: Sáng ngày 10/09/2020 S mượn xe đạp điện của anh Nguyễn Thành Ch đi đến khu vực cầu thuộc thôn Gi xã Gi, huyện Y thì gặp Q không rõ họ, tên đệm ở xã Gi, huyện Y. S nhờ Q mua hộ ma túy thì Q đồng ý, S đưa cho Q 200.000đ và đứng chờ, còn Q cầm tiền đi mua ma túy. Khoảng 15 phút sau Q quay lại đưa cho S 01 túi nilon nhỏ mầu trắng bên trong có 02 gói giấy màu trắng có chữ mầu đen, S cầm gói ma túy nêu trên ở tay trái rồi tiếp tục đi xe đạp điện về đến ngõ Bình Tân, thuộc tổ dân phố C, phường B, thì bị lực lượng Công an thị xã M kết hợp với Công an phường B kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra S còn khai nhận: Trước đó ngày 09/9/2020 S cũng nhờ Q mua hộ 200.000đ ma túy, sau đó S mang ma túy rồi đến đường vào công ty Tribeco thuộc tổ dân phố B, phường B sử dụng hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với S.

Đối với chiếc xe đạp điện sơn mầu xanh, trên xe dán tem mác Exciter biển xe ghi chữ số 10A7 quản lý của Sn, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thành Ch cho S mượn. Anh Ch không biết S sử dụng chiếc xe nói trên để đi mua ma túy, ngày 20/10/2020 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ch chiếc xe nói trên. Anh Ch nhận lại tài sản không yêu cầu đề nghị gì.

Đối với đối tượng Sơn khai tên là Q đã đi mua ma túy hộ S ở khu vực thôn Gi xã Gi, huyện Y. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành xác minh nhưng không có đối tượng nào có tên Q có đặc điểm như S đã khai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M cũng đã có văn bản thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKSMH ngày 12/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo Đặng Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành Ch; Vắng mặt toàn bộ người làm chứng.

Bị cáo S và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Bị cáo S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M duy trì công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Sơn và đề nghị với Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thanh S từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/9/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo Đặng Thanh S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo S không có quan điểm bổ sung và tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã M trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

- Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản vụ việc, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: "Hồi 8 giờ ngày 10/9/2020 tại ngõ Bình Tân thuộc tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh H, Đặng Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép trong người 0,066g (Không phẩy không sáu sáu gam) ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện”. Bị cáo đã có 02 tiền án về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là chính xác và đúng pháp luật.

- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nghiện ma tuý biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập làm cho kinh tế gia đình kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội. Nhưng chỉ vì mục đích thoả mãn cơn nghiện của bản thân mà bị cáo lao vào con đường phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xẩy ra. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bố bị cáo là thương binh loại A, hạng 3/4 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì và hạng ba, nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với đối tượng S khai tên là Q đã đi mua ma túy hộ S ở khu vực thôn Gi, xã Gi, huyện Y. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành xác minh nhưng không có đối tượng nào có tên Q có đặc điểm như S đã khai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M cũng đã có văn bản thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; Vợ chồng đã ly hôn, bị cáo không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Chiếc xe đạp điện quản lý của S, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thành Ch cho S mượn. Anh Ch không biết S sử dụng chiếc xe nói trên để đi mua ma túy sử dụng, ngày 20/10/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Ch chiếc xe nói trên. Anh Ch nhận lại tài sản không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với số Heroin cơ quan giám định không hoàn lại mẫu vật gửi giám định nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo Đặng Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

* Căn Cứ: Điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 38 của Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/9/2020.

* Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Thanh S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, Tòa đã báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ