- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Dang Thuy M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2020/HS – ST Ngày: 28-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Phương
Bà Nguyễn Thị Kim Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2020/TLST – HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đặng Thùy M - Sinh năm 1981 tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Khu phố S, phường TP, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1955; Chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thùy D và có 01 con (sinh năm 2017).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12-5-2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 54/2009/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 04-01-2020, chuyển tạm giam ngày 07-01-2020 (có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã PH, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đặng Thùy M là người nghiện ma túy. Buổi chiều ngày 03-03-2020, M gọi điện nhờ một người đàn ông tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) ở phường MX, thị xã PM mua cho M 02 (hai) gói ma túy với giá 500 000 đồng để sử dụng. Sau khi có ma túy, M mang về phòng trọ của mình tại khu phố M, phường MX, thị xã PM sử dụng một ít, số còn lại mang cất giấu Đến 21 giờ 30 phút ngày 04-01-2020, Công an thị xã Phú Mỹ phối hợp với Công an phường MX, thị xã Phú Mỹ kiểm tra hành chính nhà trọ của M và phát hiện, bắt quả tang M đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 (hai) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt, được giấu trong chiếc thiệp mời màu xanh dương, để trong túi đựng đồ màu xanh đen của M. Qua làm việc M khai nhận đây là ma túy dạng đá của M tàng trữ nhằm mục đích sử dụng Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của M 01 điện thoại di động hiệu Intel đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số tiền 250 000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 63/GĐMT-PC09 (Đ4 ngày 14-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định: Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 02 (hai gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,5083 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng trong vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong màu trắng đề số 63 ngày 14-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 01 điện thoại di động hiệu Itel đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và số tiền 250.000 đồng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 15-4-2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Đặng Thùy M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
T ph ên a:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo M từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo, tịch thu sung ngân sách một chiếc điện thoại di động hiệu Intel đã qua sử dụng, trả lại cho bị cáo 250 000 đồng
Bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về ố ụng:
Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về nộ dung vụ án và ộ danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 04-01-2020, tại khu phố MT, phường MX, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nguyễn Đặng Thùy M có hành vi tàng trữ trái phép 0,5083 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thị xã Phú Mỹ phối hợp với Công an phường MX, thị xã Phú Mỹ phát hiện, bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Đối với người đàn ông tên S hiện vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về tính chất, mức độ đối với hành vi ph m tội của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương Ma túy là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân gây ra những căn bệnh chết người, làm thiệt hại về kinh tế và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác
Bị cáo là người có nhân thân xấu Năm 2009 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức giáo dục, răn đe, giúp cho bị cáo từ bỏ được ma túy đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiế ăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình ph bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về xử lý vậ chứng:
Cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì màu trắng được niêm phong trong đề số 63 ngày 14-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, số Imei 1: 351980102978143, máy đã cũ, không có nắp lưng và hư hỏng do do bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội
Trả lại cho bị cáo số tiền 250 000 đồng do không có liên quan đến hành vi phạm tội
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đặng Thùy M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo M 02 (hai năm tù Thời hạn tù tính từ ngày 04-01-2020
2 Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì màu trắng được niêm phong số 63 ngày 14-01-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và 01 (một bộ dụng cụ sử dụng ma túy
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một điện thoại di động màu đen, hiệu Itel, số Imei 1: 351980102978143, máy đã cũ, không có nắp lưng và hư hỏng
Trả lại cho bị cáo số tiền 250 000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng
(Các vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 64/BB-CCTHADS ngày 16-4-2020 và biên lai thu tiền số TT/2016/0000498 ngày 16-4-2020
3 Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đặng Thùy M phải nộp 200 000đ (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm
4 Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 06, Công an tỉnh BR-VT; - VKSND TX Phú Mỹ; - Cơ quan CSĐT Công an TX Phú Mỹ; - Chi cục Thi hành án dân sự TX Phú Mỹ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung |