- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 65/2020/HS-ST Ngày 24-02-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Văn Chuy
- Ông Nguyễn Đắc Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố , tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 53/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 63/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L; sinh ngày 25 tháng 7 năm 1988 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: xóm 7, xã H1, huyện H2, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc L1 và bà TrầnThị T; Có vợ Vũ Thị D và 02 (hai) con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 18/12/2015 bị TAND huyện H2, tỉnh Nam Định xử phạt 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” trả tự do ngay tại phiên tòa, ngày 09/12/2016 đã chấp hành xong bản án. Bị bắt, tạm giam ngày 26/12/2019. Có mặt.
* Người làm chứng:
1./ Nguyễn Hữu B, sinh năm 1953. Nơi cư trú: tổ 79, khu 7, phường H3, Tp , tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có L do.
2./ Đinh Đăng Đ, sinh năm 1952. Nơi cư trú: tổ 47, khu 5, phường H3, thành phố , tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, không có L do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12giờ 35phút ngày 26/12/2019 Công an phường H3, Tp H phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H làm nhiệm vụ tại tổ 54, khu 5, phường H3, Tp H, tỉnh Quảng Ninh, kiểm tra phát hiện Nguyễn Thành L tàng trữ 02 gói ma túy Heroine mục đích để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy trên: do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 11giờ 30phút ngày 26/12/2019 L đi từ phường Cao Thắng, Tp H đến gần cầu Bút Sê mua của một người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy Hêrôine với giá 200.000đ sau khi mua L cầm trên tay trái đến hiệu thuốc mua kim tiêm mục đích sử dụng ma túy thì bị kiểm tra, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ tại tay trái của L: 02 (Hai) gói giấy (Kí hiệu M1, M2) bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng.
Kết luận giám Đ số 1088/GĐMT ngày 30/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật M1, M2 gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; Tổng khối lượng: 0,371gam. Hoàn lại sau giám định: M1: 0,15gam; M2: 0,12gam.
Cáo trạng số 38/CT-VKSHL ngày 21/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ, giải thích việc công bố bản án theo quy định của pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng Nguyễn Hữu B và Đinh Đăng Đ có lời khai thể hiện việc chứng kiến cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ tại tay trái Nguyễn Thành L 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng, L khai nhận đó là Heroine của L.
Người thanh niên đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L không biết nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xác minh, xử L.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 luật hình sự: xử phạt Nguyễn Thành L từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo về việc tàng trữ trái phép ma túy phù hợp với lời khai của những người chứng kiến cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12giờ 50phút ngày 26/12/2019; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng và Kết luận giám định.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Hồi 12giờ 35phút ngày 26/12/2019 tại khu vực tại tổ 54, khu 5, phường H3, Tp H, tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Thành L tàng trữ trái phép 0,371gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
a) ...
c). Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy, về nhân thân: năm 2015 bị TAND huyện H2, tỉnh Nam Định xử phạt 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng bản thân mà còn tàng trữ trái phép để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu bất chính của bản nhân thể hiện sự coi thường pháp luật cần xử L nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử L:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[5] Về vật chứng: Lượng ma túy hoàn lại sau giám Đ là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT Đ
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Thành L 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2019.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,27gam mẫu vật hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 1088/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 121/BB - THA ngày 24/02/2020 tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố ).
Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKS; CA; THADS Tp ; - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Đắc Nam Phạm Văn Chuy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Dung Nguyễn Đăng Cƣờng Thành viên hội đồng xét xử | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm Lê Thanh Tâm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |