- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Thi K " Tang tru trai phep chat ma tuy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Võ Thị A (tên gọi khác: Võ Thị B) 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2020/HS-ST. Ngày: 19-10-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Nhung;
Bà Dương Thị Mỹ Liên.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hữu Tuấn -Thư ký Toà án nhân dân thị
xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia
phiên toà: Ông Võ Trường Thọ – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Thị A (tên gọi khác: Võ Thị B), sinh năm 1986, tại: Tỉnh BĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn PH, xã BT, huyện TS, tỉnh BĐ; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố AK, phường AT, thị xã Tr, tỉnh T; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ C và bà Tạ Thị D; chồng: Nguyễn Văn T (đã ly hôn), con: Có 01 người, sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 133/2016/HSST ngàu 28/4/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành án tại trại giam An Phước thuộc huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, chấp hành án xong ngày 27-3-2018 (đã được xóa án tích). Bị cáo tại ngoại- Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1/ Anh Lâm Thanh BB, sinh năm 1985. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú hiện nay: Khu phố AK, phường AT, thị xã Tr, tỉnh T - Vắng mặt.
2/ Ông Nguyễn Văn BI, sinh năm 1953. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú hiện nay: Khu phố AT, phường AT, thị xã Tr, tỉnh T - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 23-5-2020, Công an phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, kiểm tra phòng trọ số 19, nhà trọ ông Nguyễn Văn BI thuộc khu phố Khu phố AK, phường AT, thị xã Tr, tỉnh T bắt quả tang Võ Thị A đang tàng trữ trái phép 04 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt (nghi là chất ma túy) trong bao thuốc lá hiệu “SAI GON”. Vật chứng thu giữ: 04 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt và một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, A khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 23-5-2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên A điện thoại cho người thanh niên tên “L” (không rõ địa chỉ) hỏi mua chất ma túy với số tiền 1.000.000 đồng thì L đồng ý bán và hẹn đến phòng trọ số 19, nhà trọ ông Nguyễn Văn BI để giao nhận chất ma túy. Sau đó, L đến điểm hẹn bán cho A 04 bịch ma túy và nhận tiền. A lấy số ma túy vừa mua cất giấu vào trong bao thuốc lá hiệu “SAI GON” để trong tấm xốp trong phòng trọ. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 780/KL-KTHS ngày 29-5-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 04 bịch nylon trong suốt (ký hiệu M) được bịt kín là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 2,0107 gam.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSTrB ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Võ Thị A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo A từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Do bị cáo không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo A thừa nhận: Hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt, để sửa chữa lỗi lầm sớm về chăm sóc con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Bị cáo A là người nghiện ma túy nên bị cáo đã nhiều lần mua ma túy về sử dụng. Đến ngày 23-5-2020, bị cáo A điện thoại cho người thanh niên tên “L” (không rõ địa chỉ) hỏi mua 04 bịch chất ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng tàng trữ để sử dụng và bị bắt quả tang.
Căn cứ vào Kết luận giám định số 780/KL-KTHS ngày 29-5-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 04 bịch nylon trong suốt (ký hiệu M) được bịt kín là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 2,0107 gam.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ đã thu thập. Bị cáo A thừa nhận việc mua ma túy về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Do đó, trong vụ án này, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; gây khó khăn cho công tác phòng chống ma tuý của Nhà nước và góp phần gây ra những tội phạm khác. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và hiện nay bị cáo đang mang thai. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an thị xã Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng người thanh niên tên “Lắm” bán ma túy cho bị cáo A, hiện không rõ họ tên, địa chỉ nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu ASus màu trắng-hồng, số IMEI1: 354224085880043, số IMEI2: 3542224085880050, bên trong có sim số 0328998405 là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen, số sêri: 351948053104936, bên trong có sim số 0869.625.106 là phương tiện mà bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 gói niêm phong ghi số vụ: 780 có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Th và trợ lý giám định Lê Nhựt N. Sau giám định bên trong còn lại 1,6853 gam chất ma túy, là loại Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đầu khò gas bình mini màu đen- vàng trên thân đầu khò có ghi chữ “ GAS KOVIE”, 01 bao thuốc lá hiệu “SAI GON; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng ( đã qua sử dụng); 01 giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị A (bản pho to); 01 sổ hộ khẩu số 090170910 tên chủ hộ Võ Thị A (pho to); 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống hút nhựa màu xanh và một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu; 01 bật lửa có ghi chữ “ HOA VIỆT”; 05 bịch nylon trong suốt bên trong rỗng thu giữ trong khi khám xét phòng trọ số 19, nhà trọ ông Nguyễn Văn BI thuộc khu phố AK, phường AT, thị xã Tr, tỉnh T là những vật dụng không có giá trị và vật dụng bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Thị A (tên gọi khác: Võ Thị B) 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu ASus màu trắng-hồng, số IMEI1: 354224085880043, số IMEI2: 3542224085880050, bên trong có sim số 0328998405.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen, số sêri: 351948053104936, bên trong có sim số 0869.625.106.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ: 780 có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Th và trợ lý giám định Lê Nhựt N, sau giám định bên trong còn lại 1,6853 gam chất ma túy, là loại Methamphetamine; 01 đầu khò gas bình mini màu đen- vàng trên thân đầu khò có ghi chữ “ GAS KOVIE”, 01 bao thuốc lá hiệu “SAI GON; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị A (bản pho to); 01 sổ hộ khẩu số 090170910 tên chủ hộ Võ Thị A (bản pho to); 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống hút nhựa màu xanh và một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu; 01 bật lửa có ghi chữ “ HOA VIỆT”; 05 bịch nylon trong suốt bên trong rỗng.
3. Án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Công an xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Như Thủy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |