- Tranh chấp gì? án hình sự — "PDK - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 412/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, 01 cân điện tử mầu ghi tối và 01 bộ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh mầu trắng và 01 ống nhựa mầu trắng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HS-ST Ngày 15-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Anh Đức;
Ông Nguyễn Hữu Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Long Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2019/TLST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:
PDK, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1971 tại Hải Phòng; ĐKNKTT: Số 307/4, đường A, phường B, quận C, Hải Phòng; tạm trú: Số nhà 12 tầng 3, phố D, phường E, quận C, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông F và bà G (đều đã chết); có vợ là H (đã ly hôn), có hai con: con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Bản án số 45/2014/HSST, ngày 01 tháng 8 năm 2014 Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 24 tháng 7 năm 2019, tạm giam ngày 26 tháng 7 năm 2019; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông NCK; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ, ngày 23-7-2019 PDK thuê xe ôm của một người không quen biết đi từ nhà tại số 12 tầng 3, D, E, C đến khu vực đường tàu I, J để mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon bên trong có 03 túi nilon nhỏ đựng ma túy với giá tiền là 1.500.000 đồng rồi thuê xe ôm về nhà. Về đến nhà PDK mang số ma túy vừa mua được đem chia ra thành 13 túi nilon nhỏ, với mục đích để sử dụng cho đúng liều lượng. Sau khi chia xong PDK lấy 01 túi ma túy nhỏ ra sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 24-7-2019 PDK lấy ra 01 túi ma túy nhỏ ra sử dụng và đến khoảng 13 giờ cùng ngày PDK tiếp tục lấy 01 túi ma túy ra sử dụng. Số còn lại 10 túi nilon đựng ma túy PDK để vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày PDK bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Công an thành phố Hải Phòng bắt giữ tại trước cửa nhà số 12 tầng 3 D, E, C, đưa PDK cùng tang vật về Công an phường Phan Bội Châu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước PDK đang mặc 01 túi nilon bên trong có 10 túi nilon nhỏ đựng ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của PDK tại số nhà 12 tầng 3 D, E, C đã thu giữ: Thu trên mặt bàn giữa nhà 01 cân điện tử kích thước 7cm x 3,5cm màu ghi tối, 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel đã qua sử dụng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa có nắp đậy, trên nắp đậy có gắn một ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu trắng).
Tại bản Kết luận giám định số: 412/KLGĐ, ngày 26-7-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:“Tinh thể màu trắng của mẫu số QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,7501 gam, là loại Methamphetamine.
Khoảng 19 giờ, ngày 23-7-2019 bị
Tại phiên tòa, bị cáo PDK đã khai nhận: cáo thuê xe ôm đi từ nhà đến khu vực đường tàu I, J để mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon bên trong có 03 túi nilon nhỏ đựng ma túy “đá” với giá tiền là 1.500.000 đồng rồi thuê xe ôm về nhà. Bị cáo đã chia số ma túy mua được thành 13 túi nilon nhỏ để sử dụng dần. Bị cáo đã sử dụng 03 túi ma túy nhỏ. Số còn lại 10 túi nilon đựng ma túy bị cáo để vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày bị cáo bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Công an thành phố Hải Phòng bắt giữ tại trước cửa nhà số 12 tầng 3 D, E, C, đưa bị cáo cùng tang vật về Công an phường Phan Bội Châu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cáo trạng số: 55/CT-VKSHB, ngày 23-10-2019, của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã quyết định truy tố bị cáo PDK về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo PDK về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo PDK từ 36 đến 42 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24-7-2019. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nội dung lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái với pháp luật. Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ về hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện, tuân thủ đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều hợp pháp.
Người chứng kiến là ông NCK đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tại Cơ quan điều tra người chứng kiến đã có bản ghi lời khai trình bày rõ về sự việc được chứng kiến. Việc lấy lời khai của Cơ quan điều tra đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc vắng mặt của người chứng kiến tại phiên tòa sẽ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định xét xử vắng mặt người chứng kiến.
- Về tội danh:
Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo PDK đã khai nhận về việc cất dấu trái phép lượng ma túy là 2,7501 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Hải Phòng bắt giữ quả tang tại trước cửa nhà số 12, tầng 3, đường D, phường E, quận C, vào hồi 15 giờ 15 phút, ngày 24-7-2019 cùng tang vật là 10 gói Methamphetamine bị cáo đang cất dấu trong túi quần.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bởi biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang được lập hồi 15 giờ 20 phút, ngày 24-7-2019 tại số nhà 12, tầng 3, đường D, phường E, C.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm do hành vi của mình gây ra những vẫn thực hiện các hành vi nêu trên với lỗi cố ý trực tiếp.
Bị cáo đã có hành vi mua và cất dấu ma túy là chất Methamphetamine có khối lượng 2,7501 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Chứng cứ xác định bị cáo không có tội: Không có.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo PDK đã có đủ yếu tố để cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có một tiền án chưa được xóa án tích do chưa thi hành xong khoản tiền phạt (6.300.000 đồng) để sung quỹ Nhà nước tại Bản án số 45/2014/HSST, ngày 01-8-2014 Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Lần phạm tội này bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như đã phân tích ở trên, chứng tỏ bị cáo chưa có ý thức quyết tâm cải tạo, do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo là người không có tài sản riêng và không có việc làm, thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 412/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa số ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của những người liên quan, 01 cân điện tử mầu ghi tối và 01 bộ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh mầu trắng và 01 ống nhựa mầu trắng. Đây là số ma túy mà bị cáo đã tàng trữ trái phép và những dụng cụ được bị cáo dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, là những vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Còn đối với 01 điện thoại di động hiệu Viettel mầu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 359430065638203, số IMEI 2: 359430065638211, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu trong điện thoại và đã xác định bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho PDK, tài liệu điều tra chưa xác định được căn cước và lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo PDK 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 24-7-2019.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 412/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, 01 cân điện tử mầu ghi tối và 01 bộ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa có nắp đậy, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh mầu trắng và 01 ống nhựa mầu trắng.
- Trả lại cho PDK 01 điện thoại di động hiệu Viettel mầu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 359430065638203, số IMEI 2: 359430065638211.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, ngày 23-10-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo PDK phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - CQĐT - Công an quận Hồng Bàng; - CQTHAHS - Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng; - Bị cáo; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |